Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Nhơn Trạch lần thứ IV, nhiệm kỳ 2010- 2015

BBT xin giới thiệu toàn văn Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện, nhiệm kỳ 2010- 2015, bao gồm: Phát biểu khai mạc và bế mạc Đại hội, phát biểu chỉ đạo Đại hội của Thường trực Tỉnh ủy, báo cáo chính trị và Nghị quyết Đại hội.

 

DIỄN VĂN KHAI MẠC

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ IV

(Do đồng chí Phan Thị Mỹ Thanh – Tỉnh ủy viên – Bí thư Huyện ủy đọc)

 

Kính thưa:

- Đ/c Trần Đình Thành - ủy viên BCH trung ương Đảng – Bí thư tỉnh ủy  Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Nai

- Các vị khách quý

- Đoàn Chủ tịch Đại hội

- Toàn thể Đại Hội.

Thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 129-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, về việc tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ 11 của Đảng.

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nhơn trạch lần thứ 4 (nhiệm kỳ 2010 - 2015) rất vinh dự được Ban Thường vụ Tỉnh ủy chọn làm điểm tổ chức Đại hội, của các Đại hội đại biểu Đảng bộ trực thuộc Tỉnh.

Đại hội được long trọng tổ chức trong 02 ngày 15 và 16 tháng 7 năm 2010.

Đại hội chúng ta nhiệt liệt chào mừng đ/c Bí Thư tỉnh ủy về dự và chỉ đạo Đại hội.

Đại hội nhiệt liệt chào mừng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, các vị khách quí đến dự Đại hội. Sự hiện diện đồng chí Bí Thư tỉnh ủy và các vị khách quí  đã mang đến cho Đảng bộ và nhân dân huyện Nhơn Trạch những tình cảm quý báu và sự cổ vũ lớn lao.

Đại hội nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí lãnh đạo Đảng bộ huyện qua các thời kỳ, Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và các đồng chí lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể của huyện đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của huyện trong thời gian qua, đặc biệt trong 5 năm 2005 - 2010.

Đại hội nhiệt liệt chào mừng 179 đại biểu đảng viên ưu tú được bầu ra từ Đại hội Đảng cấp cơ sở của huyện, tiêu biểu cho trí tuệ, bản lĩnh chính trị, sức mạnh đoàn kết của hơn 1900 đảng viên trong toàn Đảng bộ về dự Đại hội.

Trong giờ phút trang trọng này, với niềm tự hào và kính yêu vô hạn, Đại hội chúng ta thành kính tưởng nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và của dân tộc, Người anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất, Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta.

Đại hội thành kính tưởng nhớ và tri ân những đồng chí, đồng bào vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, đã hy sinh trên quê hương Nhơn Trạch anh hùng.

Kính thưa Đại hội!

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nhơn Trạch lần thứ IV diễn ra vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân huyện nhà kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 3 và tiếp tục thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 9, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11; kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và kỷ niệm huyện Nhơn Trạch tròn 16 năm hình thành và phát triển.

Trong nhiệm kỳ qua, Nhơn trạch gặp không ít khó khăn, thách thức, nhưng Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã nêu cao tinh thần đoàn kết, nhất trí, nỗ lực phấn đấu vươn lên giành được nhiều thành tựu to lớn và khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực, đưa kinh tế- xã hội huyện nhà tiếp tục phát triển; đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; quốc phòng - an ninh được giữ vững; hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn, xây dựng vững mạnh. Những thành tựu đó đã làm thay đổi rõ nét bộ mặt của huyện; làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện phấn khởi, ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Thành tựu 5 năm qua rất quan trọng, có sức cổ vũ, động viên mạnh mẽ đối với Đảng bộ và nhân dân huyện nhà, tạo tiền đề thuận lợi cho sự phát triển của huyện trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, huyện vẫn còn không ít khó khăn, thách thức ở từng lĩnh vực, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng bộ để sớm có giải pháp khắc phục một cách khả thi.

Tại Đại hội này, với quan điểm nhìn thẳng sự thật, chúng ta có trách nhiệm tiếp tục thảo luận, đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11, Điều lệ Đảng bổ sung, sửa đổi, dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 9; đồng thời tập trung thảo luận nhằm kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 3, đánh giá những việc làm được, chưa được, chỉ ra những khuyết điểm yếu kém, tìm ra nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo điều hành để làm cơ sở quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Đảng bộ huyện trong giai đoạn 5 năm 2010 – 2015, Đại hội còn có nhiệm vụ quan trọng là chọn lựa và bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa IV có số lượng và cơ cấu hợp lý, có khả năng lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đề ra. Do đó, mỗi đại biểu càn nêu cao tinh thần trách nhiệm, đề cao tính Đảng, sáng suốt lựa chọn những đảng viên của Đảng bộ về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, có đủ năng lực, uy tín, có khả năng quy tụ đoàn kết và tâm huyết với sự nghiệp cách mạng, hết lòng vì dân, vì Đảng để bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá 4 (nhiệm kỳ 2010 – 2015).

Đồng thời lựa chọn, bầu đoàn đại biểu ưu tú của Đảng bộ huyện đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 9, góp phần vào sự thành công của Đại hội Đảng bộ tỉnh.

Kính thưa Đại hội!

Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện hôm nay là Đại hội của sự nối tiếp, kế thừa những thành quả đã đạt được của những nhiệm kỳ qua và có ý nghĩa lớn, khởi đầu cho bước tiến của toàn Đảng bộ và nhân dân trong huyện quyết tâm xây dựng và phát triển thành phố mới Nhơn Trạch theo tinh thần Nghị quyết 13-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy

Với tinh thần trách nhiệm đó, thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội, tôi xin long trọng tuyên bố:

Khai mạc - Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nhơn Trạch lần thứ 4 (nhiệm kỳ 2010 – 2015)

Kính chúc các đồng chí nhiều sức khỏe.

Chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn.

--------------------------------------------------
BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nhơn Trạch (khóa III)

trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Nhơn Trạch lần thứ IV,

nhiệm kỳ 2010 – 2015

 

TIẾP TỤC NÂNG CAO HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH,
VỮNG MẠNH; PHÁT HUY TINH THẦN ĐOÀN KẾT TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN; TẬP TRUNG MỌI NGUỒN LỰC, ĐẢM BẢO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐI ĐÔI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI BỀN VỮNG;
ĐẨY NHANH TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN

THÀNH PHỐ NHƠN TRẠCH

(Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nhơn Trạch (Khóa III)

trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nhơn Trạch (Khóa IV)

do đồng chí Quách Hữu Đức Phó Bí thư Huyện ủy – Chủ tịch HĐND huyện trình bày)

 

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IV diễn ra vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân huyện nhà kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III và tiếp tục thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và kỷ niệm huyện Nhơn Trạch tròn 16 năm hình thành và phát triển.

Đại hội có nhiệm vụ đánh giá cụ thể những kết quả đạt được của Đảng bộ huyện trong nhiệm kỳ vừa qua và rút ra những bài học kinh nghiệm, đồng thời nhận định đầy đủ về khả năng, lợi thế của địa phương trong giai đoạn sắp tới, làm cơ sở để quyết định về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Đảng bộ huyện trong giai đoạn 5 năm 2010 - 2015. Nhằm đáp ứng nhiệm vụ, yêu cầu đó của Đại hội, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện xây dựng báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IV với những nội dung cụ thể như sau:

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI
LẦN THỨ III CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN NHIỆM KỲ 2005 - 2010

Quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng bộ huyện trong 5 năm qua diễn ra trong bối cảnh có nhiều yếu tố thuận lợi và thách thức đan xen. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, địa phương cũng gặp không ít khó khăn do tiềm lực kinh tế còn hạn chế, nguồn nhân lực chưa đáp ứng về nhiều mặt, những vấn đề bức xúc về mặt xã hội, dân sinh nảy sinh trong quá trình đô thị hóa đòi hỏi phải tập trung giải quyết, các yếu tố bất lợi về thời tiết, dịch bệnh… đã gây nhiều trở ngại cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm qua.

Trong bối cảnh đó, với sự đoàn kết thống nhất và nỗ lực khắc phục khó khăn, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân huyện Nhơn Trạch đã ra sức phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng bộ huyện và đạt được những kết quả quan trọng.

I. NHỮNG THÀNH TỰU

1. Kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng cao. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân trong 5 năm 2005 - 2010 tăng bình quân 16,15%/năm[1], (chỉ tiêu NQ - 14,5%/năm). Trong đó 3 năm đầu tăng trên 16,9%, năm thứ 4 giảm còn 12,5% do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới và phục hồi vào năm thứ 5 với mức dự ước tăng 16,23%. Thu nhập bình quân đầu người tăng hàng năm 15,9%, đạt 19 triệu đồng (chỉ tiêu NQ - 15,9 triệu đồng) tăng gấp 2 lần so với năm 2005.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng định hướng. Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 52% năm 2005 lên 56% năm 2010 (chỉ tiêu NQ - 57%), tỷ trọng dịch vụ tăng từ 26% lên 33% (chỉ tiêu NQ - 31%) và tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 22% xuống còn 11% (chỉ tiêu NQ - 12%). Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng khá nhanh, vượt mức dự kiến trên 490% so với chỉ tiêu NQ và cao hơn 4,86 lần so với giai đoạn 5 năm trước[2] do thu hút được nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước tăng cả về số lượng và tổng vốn đầu tư; vốn đầu tư nước ngoài chiếm 66% trong cơ cấu vốn đầu tư trên địa bàn.

Công nghiệp và xây dựng liên tục tăng trưởng cao, trở thành nhân tố chủ đạo thúc đẩy kinh tế trên địa bàn có tốc độ tăng trưởng cao, tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng định hướng. Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp - xây dựng tăng 21,57%/năm; trong đó tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng bình quân 21,31%/năm. Trên địa bàn đã thu hút 328 dự án đầu tư vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tăng 1,6 lần về số dự án và tăng 2,3 lần về vốn đầu tư so với thời điểm cuối năm 2005; trong đó dự án có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 61,2% trên tổng dự án và chiếm 72,3% trong cơ cấu vốn[3]. Hiện 200 dự án đã hoạt động, thu hút trên 50.000 lao động. Với 8 khu công nghiệp có tổng diện tích quy hoạch 3.600ha, đến nay đã cho thuê được 67,9% diện tích cho thuê. Cụm công nghiệp của huyện đã hoàn thành công tác thu hồi đất và đang xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng, hiện có 34 dự án được giới thiệu địa điểm và 4 doanh nghiệp đã triển khai hoạt động sản xuất.

Đầu tư xây dựng tăng khá nhanh, góp phần từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn. Có 140 công trình được xây dựng mới với tổng vốn đầu tư 628 tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước, trong đó có nhiều công trình giao thông, cơ sở vật chất có ý nghĩa quan trọng[4]. Kết cấu hạ tầng nông thôn có bước phát triển rõ rệt, nhất là hệ thống đường giao thông, thủy lợi, cấp điện, trường học, trạm y tế, chợ... Trong 5 năm qua đã có trên 100km cầu, đường giao thông được nâng cấp, xây dựng mới theo phương thức xã hội hóa giao thông nông thôn với tổng kinh phí trên 10 tỷ đồng; trên 98,5% hộ dân trên địa bàn đã có điện sử dụng, tăng hơn 4% so với năm 2005.

Công tác quy hoạch và phát triển các khu dân cư đô thị được tập trung thực hiện theo định hướng quy hoạch chung xây dựng đô thị mới Nhơn Trạch đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt. Đã lập quy hoạch chi tiết 1/2.000 khu trung tâm thành phố mới Nhơn Trạch (600ha), quy hoạch chung 5 xã thuộc khu vực phát triển đô thị và quy hoạch các điểm dân cư nông thôn của 7 xã cùng một số quy hoạch dự án văn hóa, dân cư đô thị trọng điểm[5].

Trong 5 năm qua, trên địa bàn đã hình thành thêm 6 khu dân cư đô thị, nâng tổng số lên 10 khu với tổng diện tích 1.387 ha; xây dựng hoàn chỉnh các khu tái định cư Phước Khánh, Phước An, Đại Lộc (Đại Phước); hoàn thành lập quy hoạch và hồ sơ xây dựng các khu tái định cư Phú Hội, Long Thọ, Phước Thiền, Hiệp Phước. Ngoài ra, thực hiện chủ trương của Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho người lao động, người có thu nhập thấp, huyện đã triển khai lập dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho người có thu nhập thấp và nhà ở cho công nhân trong khu dân cư đô thị Long Thọ - Phước An[6].

Thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển cả về quy mô và ngành nghề hoạt động. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tăng bình quân 34,28%/năm (chỉ tiêu NQ - 32%/năm). Số doanh nghiệp thành lập từ năm 2005 - 2010 tăng 1,8 lần về số lượng và tăng 5,3 lần về vốn đăng ký; số hộ kinh doanh cá thể tăng 1,3 lần về số lượng và tăng 2,6 lần về số vốn so với năm 2005.

Ngành du lịch tuy mới phát triển dưới hình thức tự phát nhưng có nhiều tiềm năng, thu hút khá đông về lượng khách, hàng năm có trên 13 vạn lượt khách đến tham quan, vui chơi ở 7 điểm du lịch sinh thái. Dịch vụ vận tải hành khách tăng nhanh với 6 tuyến xe buýt đang hoạt động trên địa bàn cùng với sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực vận tải đã cơ bản đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân. Bưu chính - viễn thông phát triển nhanh với tỷ lệ đạt 48 máy điện thoại trên 100 dân, tăng hơn 5 lần so với năm 2005. Hoạt động dịch vụ kinh doanh nhà trọ tăng mạnh với số phòng trọ đang hoạt động tăng gấp 2 lần[7] so với năm 2005. Mạng lưới chợ trên địa bàn tiếp tục được phát triển, hoàn thiện theo quy hoạch, đến nay chợ Phước Khánh đã được nâng cấp và chợ Đại Lộc được xây dựng mới (để di dời chợ Phước Lý), đã khởi công xây dựng chợ An Thạnh (xã Long Thọ) và hiện chợ Hiệp Phước đang được lập dự án đầu tư mới.

Dịch vụ cụm cảng - kho bãi trên địa bàn bước đầu hình thành với quy mô phát triển khá lớn, mở ra hướng phát triển loại hình dịch vụ mới, có giá trị gia tăng lớn và có nhiều tiềm năng khai thác. Trên địa bàn hiện có 16 dự án đầu tư xây dựng hệ thống cảng vận tải, cảng chuyên dụng và các dịch vụ hậu cần, kho bãi… với tổng diện tích 1.209,4ha; trong đó có cụm Cảng Phước An với quy mô 731ha với tổng vốn đầu tư 1,1 tỷ USD[8]. Huyện đã hoàn thành quy hoạch mạng lưới trung tâm thương mại, siêu thị đến năm 2020 nhằm phát triển thương mại phù hợp với yêu cầu của đô thị mới, theo đó trong những năm tới sẽ hình thành 2 trung tâm thương mại và 16 siêu thị phục vụ các khu dân cư. Về phát triển dịch vụ vận tải và du lịch, có các dự án đầu tư xây dựng bến xe với diện tích 3ha tại xã Phú Thạnh[9] và quy hoạch chi tiết các khu du lịch Long Tân - Phú Hội, khu du lịch Ông Kèo đang được triển khai thực hiện.

Công tác quản lý, điều hành ngân sách được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả. Các nguồn thu được tập trung quản lý khai thác tốt, đảm bảo việc thu, nộp kịp thời vào ngân sách Nhà nước. Tổng thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt dự toán tỉnh giao từ 150% trở lên, trong đó các khoản thu tiền sử dụng đất, phí sử dụng hạ tầng, đất công chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu[10]. Chi ngân sách được chú trọng cân đối, đảm bảo cho hoạt động thường xuyên của bộ máy chính trị, đồng thời cân đối nguồn vốn bố trí cho chi đầu tư xây dựng cơ bản, các sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Bên cạnh các nguồn vốn bổ sung từ ngân sách Tỉnh, ngân sách huyện trong 5 năm qua đã bổ sung trên 500 tỷ đồng từ nguồn vượt thu hàng năm để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên địa bàn, bổ sung cho các xã xây dựng hoàn thiện trụ sở làm việc, hội trường, văn phòng ấp…

Hoạt động tín dụng có bước phát triển mạnh trên cả hai lĩnh vực huy động vốn và cho vay. Tổng huy động vốn tăng bình quân 145%/năm, bằng 1,96 lần chỉ tiêu NQ và gấp 10,2 lần năm 2005. Tổng doanh số cho vay tăng bình quân 156%/năm, bằng 3,36 lần chỉ tiêu NQ và gấp 13,3 lần năm 2005. Trong 5 năm qua, đã thành lập thêm 04 ngân hàng mới, nâng tổng số ngân hàng đang hoạt động trên địa bàn lên 6 đơn vị và thành lập mới 01 quỹ tín dụng nhân dân.

Nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao. Các đề án quy hoạch tiểu vùng sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng nông thôn mới đã và đang được triển khai khá hiệu quả. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào sản xuất, đẩy mạnh các hoạt động khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y, tập trung đầu tư các công trình thủy lợi... đã góp phần đưa năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi tăng cao hơn so với trước đây. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 5,42%/năm (chỉ tiêu NQ - 4,5%) và tăng 28% so với năm 2005. Diện tích cây trồng tuy giảm khoảng 3.440ha do chuyển đổi cơ cấu nhưng năng suất, sản lượng các loại cây trồng chính (lúa, mía…) đều tăng đáng kể[10]. Ngành chăn nuôi phát triển ổn định, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân 1,66%/năm. Tổng đàn gia súc tương đương so với năm 2005 và tổng đàn gia cầm tăng 1,13 lần. Diện tích nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển nhanh, tăng 19,1% so với thời điểm năm 2005. Sản lượng thủy sản năm 2010 đạt 3.592 tấn, tăng 1,25 lần so năm 2005. Vùng nuôi trồng thủy sản ở xã Phước An đã được triển khai thực hiện với quy mô diện tích trên 500ha, các hạng mục hạ tầng kỹ thuật (cầu, kênh cấp, thoát nước…) đang được tập trung thi công.

Đảng bộ huyện đã xây dựng và triển khai thực hiện Nghị quyết chuyên đề về phát triển nông nghiệp của địa phương theo hướng chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp nông thôn sang sản xuất nông nghiệp đô thị, phục vụ cho tiến trình phát triển công nghiệp và đô thị hóa của huyện trong giai đoạn 2005 - 2010 và định hướng đến năm 2020. Trên cơ sở đó, huyện đã hoàn thành quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo hướng đô thị đến năm 2020 và bước đầu đã triển khai thực hiện một số dự án ưu tiên như: vùng sản xuất rau an toàn, xây dựng và phát triển các mô hình nông - lâm - thủy sản, nuôi trồng thủy sản nước lợ ở xã Phước An, Long Thọ...

Kinh tế nông thôn có bước chuyển biến tích cực, các dịch vụ và ngành nghề nông thôn tiếp tục phát triển, đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nông dân. Mô hình kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại tiếp tục được quan tâm chỉ đạo thực hiện, đã hình thành thêm 6 tổ hợp tác kinh tế, thành lập mới 9 hợp tác xã, nâng tổng số lên 30 tổ hợp tác kinh tế và 15 hợp tác xã, 01 quỹ tín dụng nhân dân; ngoài ra, có trên 100 trang trại đã hình thành và hoạt động bước đầu có hiệu quả. Huyện đã hoàn thành lập kế hoạch và triển khai xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2009 - 2015 cấp huyện và xã, trong đó đã chọn xã Long Thọ làm điểm.

Công tác chăm sóc, bảo vệ và trồng rừng tiếp tục được chú trọng thực hiện. Diện tích rừng phòng hộ được quan tâm bảo vệ, giữ ổn định. Công tác phòng chống cháy rừng được thực hiện tốt nên các năm qua không xảy ra cháy rừng gây thiệt hại lớn. Tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn đạt 24,03%.

2. Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được quan tâm chú trọng và đạt được một số kết quả khả quan

Quản lý đất đai trên địa bàn được thực hiện chặt chẽ. Công tác đo đạc, đăng ký đất đai, lập hồ sơ, bản đồ địa chính và cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo kế hoạch của tỉnh giao. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 95,8% về số thửa và 91,2% so với tổng diện tích trên địa bàn. Đã hoàn thành lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện và các xã giai đoạn 2006 - 2010 theo quy hoạch chung về xây dựng của Chính phủ, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Công tác quản lý tài nguyên khoáng sản được tăng cường, hạn chế khai thác tài nguyên trái phép.

Công tác bảo vệ môi trường được chú trọng, quan tâm chỉ đạo thực hiện. Huyện ủy đã xây dựng và ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ chính trị (khoá IX) về “bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước”; đã hoàn thành báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường và xây dựng, triển khai thực hiện đề án thu gom, vận chuyển chất thải rắn, sinh hoạt trên địa bàn đến năm 2010 và 2015. Tỷ lệ thu gom và xử lý đối với chất thải rắn sinh hoạt đạt 76% và đối với chất thải rắn nguy hại đạt 65%. Đến nay, 6/8 khu công nghiệp trên địa bàn đã xây dựng hoàn thành và đưa vào hoạt động hệ thống xử lý nước thải.

3. Giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển, khoa học và công nghệ có bước chuyển biến tiến bộ

Giáo dục và đào tạo tiếp tục có bước phát triển mạnh về quy mô trường lớp, cơ sở vật chất được tăng cường; huyện đã hoàn thành chương trình kiên cố hóa trường lớp giai đoạn 1 và xây dựng thêm 110 phòng học mới so với năm 2005, đồng thời phát triển thêm 01 trường trung cấp kỹ thuật công nghiệp, 3 trường trung học cơ sở và 4 trường mầm non. Toàn huyện có 5 trường đạt chuẩn Quốc gia, tăng 4 trường so với thời điểm năm 2005. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đủ về số lượng và chất lượng được nâng lên, 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn hóa và 40,3% đạt trên chuẩn. Tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 hàng năm đạt 100%; 95% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung học phổ thông, bổ túc văn hóa và trung học nghề, đạt chỉ tiêu Nghị quyết. Kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở được duy trì, 10/12 xã đã hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học.

Hoạt động khoa học công nghệ chuyển biến trên nhiều mặt. Bên cạnh sự ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như: mô hình trồng rau an toàn trong nhà lưới, ứng dụng chế phẩm sinh học cho các loại cây ăn quả… Đến nay, hoạt động khoa học công nghệ có bước mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Công nghệ thông tin được triển khai ứng dụng mạnh trong công tác quản lý, tổ chức cán bộ, tài chính kế toán, truy cập khai thác thông tin, giáo dục... Trang thông tin điện tử của huyện được đưa vào hoạt động, góp phần phục vụ cho công tác thông tin tuyên truyền, giới thiệu hình ảnh, kêu gọi đầu tư của địa phương. Công tác phổ cập tin học cho đội ngũ cán bộ cơ sở bước đầu được triển khai thông qua chương trình liên kết, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ; 7/11 đảng ủy xã được lắp đặt đường truyền thông tin băng thông rộng (Mega Wan) và triển khai mạng cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ hoạt động của cấp ủy Đảng.

4. Văn hóa - xã hội có bước phát triển tích cực, các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân trên địa bàn tiếp tục được nâng cao

Hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao được tổ chức với nhiều hình thức, nội dung phong phú, đa dạng, làm tăng hiệu quả công tác giáo dục chính trị, phổ biến pháp luật, góp phần phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương đồng thời đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Việc bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc được chú trọng thông qua việc quan tâm tu sửa, tôn tạo các di tích văn hóa lịch sử, đình, chùa, duy trì các tập tục dân gian tốt đẹp của địa phương, tôn thờ anh hùng, liệt sỹ trong các cuộc kháng chiến, phát huy truyền thống giữ gìn đạo lý dân tộc, uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa. Phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở gắn với chương trình thực hiện “4 giảm” ở địa bàn khu dân cư tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu. 49/53 ấp được công nhận Ấp văn hoá, tăng 9 ấp so với thời điểm năm 2005, 98% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá (chỉ tiêu NQ - 50 ấp và 85% số hộ) và 100% cơ quan, đơn vị có đời sống văn hoá tốt. Các thiết chế văn hóa cơ sở tiếp tục được chú trọng đầu tư; đã xây dựng và đưa vào hoạt động nhà thi đấu đa năng cấp huyện, 5/12 xã đã có trung tâm văn hóa - thể thao.

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân được đảm bảo. Hoạt động y tế dự phòng được chú trọng, kịp thời ngăn chặn, phòng chống một số dịch bệnh mới như dịch cúm A/H1N1. Hệ thống y tế, nhất là y tế cơ sở được tập trung củng cố về nhân sự, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất. 12/12 xã đều có trạm y tế được xây dựng, nâng cấp lại với trang thiết bị tương đối đầy đủ, có bác sỹ phục vụ thường xuyên. Bệnh viện đa khoa huyện có số giường bệnh tăng 1,6 lần so với năm 2005, đồng thời được trang bị nhiều thiết bị y tế công nghệ cao. Với chủ trương xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, trên địa bàn cũng đã hình thành một số phòng khám đa khoa tư nhân góp phần đáp ứng nhu cầu về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân.

Chế độ khám, chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi được quan tâm thực hiện. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 20,1% năm 2005 xuống còn 13,4% năm 2010. Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được triển khai toàn diện, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,05% (chỉ tiêu NQ - dưới 1,1%), tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt 97% (chỉ tiêu NQ - 95%); 12/12 xã đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế.

Công tác giải quyết việc làm và đào tạo nghề được quan tâm, tập trung thực hiện. Trong 5 năm qua, đã giải quyết việc làm cho 26.855 lao động và bình quân mỗi năm 5.400 lao động được giải quyết việc làm. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thu hút nhiều lao động nhất với khoảng 90% trong lực lượng lao động. Cơ cấu lao động các ngành nghề nông thôn, ngành nghề truyền thống được quan tâm gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng trong tổng số lao động xã hội tăng từ 28% năm 2005 lên 39% năm 2010; lao động trong các ngành dịch vụ tăng từ 29% lên 37%; lao động ngành nông nghiệp giảm từ 43% xuống còn 23%. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo tăng từ 30% năm 2005 lên 42% năm 2010.

Các hoạt động bảo trợ xã hội, chăm sóc người có công với nước được thực hiện tốt. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” trong xã hội tiếp tục được đẩy mạnh. Trong 5 năm qua, đã vận động hơn 2 tỷ đồng đóng góp Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, 12/12 xã được công nhận “xã làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ”. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả tích cực, không còn hộ nghèo theo chuẩn năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn năm 2009) đã giảm từ 5,74% xuống còn 2,8%[11]. Các chính sách đối với người nghèo như tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề miễn phí, khuyến nông, khuyến công, hỗ trợ y tế, giáo dục... được triển khai thực hiện đạt kết quả tốt. Số hộ dân có nhà kiên cố và phương tiện sinh hoạt có giá trị ngày càng tăng hơn so với trước đây.

Trong công tác chăm lo, ổn định cuộc sống của người dân thuộc diện Nhà nước thu hồi đất để thực hiện quy hoạch, dự án, các ngành, các địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, chăm lo cho cuộc sống của người dân theo tinh thần Nghị quyết số 06-NQ/HU của Huyện ủy, Nghị quyết số 06-NQ/TU của Tỉnh ủy và Nghị quyết 85/2006/NQ-HĐND của HĐND Tỉnh. Trong 5 năm qua, có tổng số gần 1.500 hộ dân có đất trong 76 dự án[12] được Nhà nước thu hồi đất, trong đó có 1.014 hộ thuộc diện phải di dời, giải tỏa trắng. Huyện đã đầu tư hoàn thành 05 khu tái định cư có tổng diện tích 365.879m2 với tổng vốn đầu tư gần 200 tỷ đồng và đã xét cấp tái định cư cho hơn 1.000 hộ dân. Bên cạnh việc đảm bảo các khoản bồi thường, hỗ trợ theo quy định, huyện còn hỗ trợ trực tiếp về lương thực đảm bảo cuộc sống hàng ngày (hỗ trợ cấp gạo thông qua chi trả bằng tiền), chi phí di chuyển, thuê chỗ ở tạm thời trong thời gian chờ tái định cư, hỗ trợ về đào tạo nghề và giải quyết việc làm, hỗ trợ các dịch vụ y tế, học phí cho con em người dân thuộc diện tái định cư, ưu tiên cho vay tín dụng ưu đãi…

Nhìn chung, so với thời điểm trước khi triển khai các dự án, điều kiện về cuộc sống của người dân thuộc diện Nhà nước thu hồi đất nói chung và nhất là của người dân trong diện tái định cư có nhiều mặt tốt hơn trước. Người dân được tiếp cận và hưởng thụ nhiều phúc lợi công cộng như đường, điện, nước sạch, trường học, trạm y tế, đồng thời được quan tâm hỗ trợ về vay tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề và chuyển đổi nghề nghiệp, chăm sóc y tế, miễn giảm về học phí… Việc thực hiện tốt công tác bồi thường, giải tỏa đi đôi với ổn định cuộc sống người dân thuộc diện Nhà nước thu hồi đất để triển khai dự án đã góp phần tích cực, quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn trong nhiệm kỳ vừa qua. Nhiều dự án lớn đã được triển khai, thu hút nguồn vốn đầu tư lớn, góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước, đồng thời giải quyết việc làm cho nhiều ngàn lao động trong và ngoài địa phương. Từ các nguồn thu hơn 1.270 tỷ đồng tiền sử dụng đất, đất công và phí sử dụng hạ tầng…. từ các dự án được triển khai đã tái đầu tư xây dựng, hoàn thiện và nâng cao kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xây dựng các khu tái định cư, đầu tư, nâng cấp, sửa chữa nhiều trường học, cơ sở y tế khang trang, vừa góp phần chăm lo, nâng cao đời sống của nhân dân, vừa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

5. Công tác an ninh - quốc phòng tiếp tục được tăng cường, củng cố. Hoạt động pháp luật được nâng cao chất lượng về mọi mặt

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững, ổn định. Các ngành, các địa phương đã quán triệt và tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới”, Nghị quyết số 08-NQ/TW của BCH Trung ương (khóa IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; thường xuyên, chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết có hiệu quả các vấn đề phức tạp nảy sinh trên các lĩnh vực an ninh nông thôn, an ninh kinh tế, an ninh chính trị nội bộ, an ninh văn hóa tư tưởng, phòng chống các hoạt động lợi dụng tôn giáo, tranh chấp lao động trong các doanh nghiệp.

Các chương trình Quốc gia về phòng chống tội phạm, chương trình “4 giảm”, các cao điểm tấn công trấn áp, làm giảm tội phạm và tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn giao thông đạt nhiều kết quả. Số vụ và số người thiệt mạng do tai nạn giao thông hàng năm đều giảm từ 07 - 10%. Công tác vận động quần chúng tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc luôn được quan tâm đổi mới về hình thức, nội dung, huy động nhân dân tích cực tham gia công tác giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn. Công tác chuyển hóa địa bàn phức tạp về an ninh trật tự thành địa bàn an toàn đạt kết quả rõ rệt ở các xã như Hiệp Phước, Đại Phước, Long Tân, Phú Hội, Phước Khánh.

Trong công tác quốc phòng, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng khu vực phòng thủ của huyện được các cấp uỷ Đảng thường xuyên chỉ đạo thực hiện, ngày càng đi vào chiều sâu, có kết quả. Công tác giáo dục, nâng cao ý thức cảnh giác, phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn được chú trọng thực hiện thường xuyên. Huyện đã kịp thời điều chỉnh, bổ sung phương án chiến đấu theo Quyết tâm A, A2 và xây dựng mới Kế hoạch B. Kết quả xây dựng lực lượng dân quân tự vệ có bước chuyển biến rõ rệt, đến nay quân số chung đạt 1,45% so với tổng dân số, trong đó tỷ lệ đảng viên đạt 17,36%, đoàn viên 48,9% (năm 2005, đảng viên đạt 6,9%, đoàn viên đạt 38,4%). Lực lượng dự bị động viên được đăng ký quản lý chặt chẽ và đưa vào biên chế đạt 97,61% (2005 đạt 71,91%). Đội ngũ cán bộ Ban CHQS xã tiếp tục được củng cố theo hướng trẻ hóa, đạt chuẩn, trong đó có 83% đã qua đào tạo. Công tác tuyển quân hàng năm đều hoàn thành chỉ tiêu giao quân ở cả hai cấp huyện và xã với chất lượng ngày càng nâng cao.

Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp, Ban Thường vụ Huyện ủy đã tổ chức quán triệt và xây dựng kế hoạch số 84-KH/HU thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp. Đến nay, chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp như: công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Cơ sở vật chất và trang thiết bị, phương tiện làm việc của các cơ quan tư pháp được đầu tư sửa chữa, nâng cấp. Công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện thường xuyên, góp phần nâng cao kiến thức pháp luật và ý thức chấp hành luật pháp trong cán bộ và nhân dân. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân được chú trọng, tỷ lệ giải quyết đơn hàng năm đạt trên 90%.

6. Bộ máy chính quyền từ huyện đến cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn theo hướng nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động

Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện và xã tiếp tục được nâng cao. Đại biểu HĐND đảm bảo về chất lượng, trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của HĐND. Các nghị quyết của HĐND về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và chuyên đề được ban hành kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế, được UBND các cấp thực hiện tốt. Việc giám sát của HĐND được tăng cường thực hiện trên nhiều lĩnh vực: cải cách hành chính, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, công tác đầu tư xây dựng các công trình XDCB trọng điểm về y tế, giáo dục... Hoạt động tiếp xúc cử tri có đổi mới thể hiện qua việc tổ chức tiếp xúc theo ngành, khu dân cư, tổ chức đối thoại về những bức xúc của cử tri ở từng địa phương. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong các kỳ họp được thực hiện, chất lượng hoạt động của HĐND được nâng lên.

Bộ máy chính quyền từ huyện đến xã được chú trọng củng cố, kiện toàn theo hướng nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Tổ chức bộ máy các phòng, ban cấp huyện đã được sắp xếp lại theo tinh thần Nghị định 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ. Việc sắp xếp, điều động, bổ nhiệm lại cán bộ lãnh đạo một số cơ quan được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục thời gian quy định. Các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức được quan tâm giải quyết tốt. Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước cho cán bộ chủ chốt và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức được chú trọng thực hiện.

Từ Nghị quyết 04-NQ/HU của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn đến năm 2020 nhằm phát triển nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, UBND huyện đã xây dựng và triển khai thực hiện đề án phát triển nguồn nhân lực của huyện giai đoạn 2006 - 2010, bước đầu đạt được một số kết quả nhất định.

Công tác cải cách hành chính được lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” ở cấp huyện và 12 xã đi vào nề nếp, có tiến bộ. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác này được kiện toàn; cơ sở vật chất, trang thiết bị được nâng cấp, xây dựng mới, góp phần nâng cao một bước hiệu quả hoạt động của bộ phận “một cửa” ở cả hai cấp huyện và xã, tạo nhiều thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong việc giải quyết các thủ tục hành chính.

Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC các cấp được củng cố, kiện toàn kịp thời, đúng cơ cấu thành phần và số lượng quy định, đã phát huy được hiệu quả công tác, tạo chuyển biến nhất trong nhận thức về quyền làm chủ của nhân dân. Đến nay, 100% cơ sở xã và các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp của huyện đã thành lập BCĐ thực hiện QCDC và hoạt động ngày càng đi vào chiều sâu.

7. Công tác vận động quần chúng có bước chuyển biến tích cực, góp phần thực hiện đạt kết quả cao nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có sự nâng cao về chất lượng, đa dạng hóa về nội dung, phương thức hoạt động gắn với phương châm hướng về cơ sở, địa bàn dân cư, sâu sát với nhân dân, kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Nhiều phong trào hành động cách mạng do Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phát động đi vào chiều sâu, mang tính thiết thực, đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao. Công tác tôn giáo, dân tộc được chú trọng thực hiện, đảm bảo đúng chủ trương, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng. Uỷ ban MTTQVN huyện đã phối hợp với các cơ quan, địa phương tiến hành kiện toàn về tổ chức và thành lập Ban đại diện Phật giáo, Ban đoàn kết Công giáo huyện và thành lập 4 Hội liên lạc kiều bào và thân nhân kiều bào cấp xã.

Thông qua các hoạt động, trong 5 năm qua, MTTQ và các đoàn thể đã vận động đóng góp quỹ Vì người nghèo trên 04 tỷ đồng, xây dựng 243 nhà tình thương, cấp phát 2.946 suất học bổng và trao tặng 300 chiếc xe đạp cho học sinh nghèo hiếu học; đã tổ chức nhiều đợt công tác dân vận giúp dân với trên 10.000 lượt cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang, đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia, thực hiện sửa chữa, nâng cấp, làm mới trên 70 km đường giao thông nông thôn, trên 30 km kênh mương nội đồng; vận động xây dựng 01 phòng khám nhân đạo chăm sóc sức khỏe cho người nghèo với tổng kinh phí xây dựng, trang thiết bị và thuốc men 758 triệu đồng.

Bộ máy dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội không ngừng được củng cố, kiện toàn và phát huy hiệu quả hoạt động. Tỷ lệ tập hợp quần chúng trong độ tuổi vào tổ chức đoàn thể đạt 83,85% (chỉ tiêu NQ - 80%), riêng Đoàn Thanh niên đạt tỷ lệ 47,3% và Hội Liên hiệp Thanh niên đạt 60,12%, đạt và vượt chỉ tiêu NQ. Lực lượng đoàn viên, hội viên nòng cốt chiếm 40,88%; tỷ lệ cơ sở vững mạnh của từng đoàn thể hàng năm đạt từ 80% trở lên, không có cơ sở yếu kém (chỉ tiêu NQ - từ 80 - 85%).

Công tác xây dựng tổ chức Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn theo tinh thần Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 07-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được tập trung thực hiện và đạt kết quả tích cực. Đã thành lập mới 06 chi đoàn trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đạt chỉ tiêu NQ; đồng thời, xây dựng 08 chi hội thanh niên nhà trọ, 22 khu nhà trọ công nhân lao động không có ma túy và tệ nạn xã hội khác, thu hút, tập hợp gần 2.000 thanh niên công nhân tham gia sinh hoạt, góp phần xây dựng nếp sống và môi trường lành mạnh, hạn chế tệ nạn xã hội.

8. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả tích cực. Vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng được phát huy

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được các cấp ủy Đảng tập trung thực hiện, đảm bảo về nội dung, phong phú đa dạng về hình thức[13]. Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước được triển khai, quán triệt kịp thời, sâu rộng trong toàn Đảng bộ và nhân dân. Tỷ lệ cán bộ, đảng viên tham gia học tập nghị quyết luôn đạt trên 98% (chỉ tiêu NQ - trên 98%), tăng trên 8% so với đầu nhiệm kỳ. Công tác bồi dưỡng, học tập nâng cao nhận thức lý luận chính trị về Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho toàn thể cán bộ, đảng viên thường xuyên được chỉ đạo, phương pháp giảng dạy và học tập được chú trọng đổi mới, đã tổ chức được 175 lớp/18.897 lượt học viên, tăng 59 lớp/7.414 học viên so với nhiệm kỳ trước.

Công tác tuyên truyền được tăng cường. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên được tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên. Phương thức tuyên truyền có bước đổi mới, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Mô hình “đảng bộ xã lãnh đạo công tác khoa giáo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” tiếp tục được các cấp ủy quan tâm thực hiện. Bộ máy và hoạt động của ban tuyên giáo các xã, tuyên huấn các cơ quan tiếp tục được củng cố, kiện toàn. Mạng lưới các tổ nhân dân ở các ấp ngày càng đóng vai trò tích cực trong việc đưa nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, đồng thời giúp cấp ủy kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân, kịp thời có chủ trương, biện pháp giải quyết những vấn đề bức xúc trong nhân dân.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được các cấp uỷ Đảng tập trung chỉ đạo triển khai và đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng bộ, có sức lan tỏa mạnh và tạo những tác động tích cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Đến nay đã có trên 151.000 lượt cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia học tập các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó 100% đảng viên và cán bộ, công chức viết bài thu hoạch sau học tập và đăng ký rèn luyện, làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh; 100% các chi bộ đưa các nội dung của Cuộc vận động vào sinh hoạt định kỳ như kiểm điểm, đánh giá đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng và niêm yết công khai quy chuẩn đạo đức của chi bộ, cơ quan tại trụ sở, nơi làm việc… Nhiều cá nhân, tập thể đã đạt thành tích và được khen thưởng, đồng thời huyện được chọn là đơn vị điểm của tỉnh trong việc triển khai thực hiện Cuộc vận động trong thời gian qua.

Công tác xây dựng, củng cố và kiện toàn tổ chức cơ sở Đảng tiếp tục được tăng cường, tập trung thực hiện. So với đầu nhiệm kỳ, đã thành lập mới 14 chi bộ cơ sở, trong đó có 5 chi bộ thành lập mới trong các doanh nghiệp khối ngoài quốc doanh; xóa hoàn toàn ấp trắng và trường học không có đảng viên; xây dựng 53/53 chi bộ ấp và 31/41 chi bộ trong trường học. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức cơ sở Đảng trong Đảng bộ không ngừng được nâng lên, phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Qua đánh giá hàng năm, tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh tăng từ 79,06% năm 2005 lên 91,07% năm 2009, tăng 12% so với đầu nhiệm kỳ; không có cơ sở yếu kém, đạt chỉ tiêu NQ. Tỷ lệ đảng viên được công nhận từ mức đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên tăng từ 82,6% năm 2005 lên 87,2% năm 2009, trong đó đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm 13,5%.

Công tác kiện toàn sắp xếp bộ máy cán bộ được tiến hành đồng bộ theo đúng tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III. Trong nhiệm kỳ qua, huyện đã tiến hành xây dựng xong đề án biên chế khối Đảng, đoàn thể và khối Nhà nước theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương; đồng thời, tiến hành thực hiện việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ lãnh đạo; điều động, luân chuyển 41 cán bộ nhằm tăng cường củng cố công tác ở các phòng ban, cơ sở.

Công tác xây dựng chất lượng đảng viên được đặc biệt quan tâm thực hiện. Trong nhiệm kỳ qua, toàn Đảng bộ đã phát triển 724 đảng viên mới[14], đạt tỷ lệ bình quân hàng năm 11,08%, đạt chỉ tiêu NQ, nâng tổng số đảng viên của Đảng bộ lên 1.907 đảng viên, tăng 61% so với đầu nhiệm kỳ. Tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng có nguồn trung kiên phát triển đảng viên mới tăng từ 79,06% năm 2006 lên 84% năm 2009. Tỷ lệ phát triển đảng trong ban giám hiệu các trường đạt 74,11% chỉ tiêu NQ (63/85 đồng chí). Chất lượng đội ngũ đảng viên được nâng lên so với nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ đảng viên tốt nghiệp PTTH là 84,17%, tăng 9,62%; số đảng viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chiếm 54,51%, tăng 12,5%; số đảng viên đã qua đào tạo chính trị 28,31%, tăng 0,55%.

Công tác cán bộ được chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, đúng nguyên tắc. Việc cụ thể hóa các văn bản về công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo - bồi dưỡng cán bộ và luân chuyển, điều động cán bộ được thực hiện kịp thời. Đến nay có 54/58 cán bộ chủ chốt cơ sở có trình độ trung cấp chính trị trở lên, đạt 93% chỉ tiêu NQ và 28/58 cán bộ có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên, đạt 48% chỉ tiêu NQ. Huyện đã hoàn thành công tác quy hoạch cán bộ đối với các chức danh chủ chốt của huyện và xã; thực hiện đồng bộ công tác đánh giá, luân chuyển và đào tạo cán bộ gắn với việc xây dựng quy hoạch cán bộ. Tổng số cán bộ được đưa vào quy hoạch các chức danh chủ chốt của huyện là 78 đồng chí, tuyển cử 171 đồng chí đi học các lớp chính trị, 256 cán bộ đi học các lớp chuyên môn và luân chuyển 07 đồng chí để đào tạo cán bộ trẻ thuộc đối tượng cán bộ dự nguồn.

Thực hiện Quyết định số 140-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, trên cơ sở triển khai, quán triệt sâu đến cán bộ chủ chốt của huyện và mở rộng đến cán bộ, đảng viên ở cơ sở, Ban Thường vụ Huyện ủy đã xây dựng các Kế hoạch số 25, 26-KH/HU và tập trung chỉ đạo thực hiện việc đánh giá lại thực trạng đội ngũ cán bộ các xã, xác định kế hoạch bố trí, sắp xếp và đào tạo lại nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ theo đúng quy định, đồng thời xác định cụ thể nhu cầu thu hút cán bộ về công tác tại xã; đến nay đã có 11/12 cán bộ về công tác tại các xã và hầu hết các trường hợp được bố trí đều phát huy tốt năng lực trong thực hiện nhiệm vụ.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng, bảo vệ tổ chức Đảng, đảng viên được các cấp ủy quan tâm chỉ đạo thường xuyên. Công tác rà soát chất lượng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên được thực hiện chặt chẽ, phục vụ tốt cho công tác xây dựng quy hoạch cán bộ, bổ nhiệm cán bộ, xem xét phát triển đảng viên mới và thẩm định lại quan hệ chính trị của đội ngũ cấp ủy xã và huyện. Trong nhiệm kỳ qua, đã làm rõ và kết luận về lịch sử chính trị và chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên thuộc diện cán bộ quy hoạch nguồn và đối tượng phát triển đảng, góp phần nâng cao chất lượng công tác bố trí, sử dụng cán bộ, kết nạp người vào Đảng. Công tác quản lý đảng viên đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài và đảng viên có quan hệ với người nước ngoài được thực hiện đảm bảo đúng quy định.

Việc triển khai thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW, Kế hoạch 44-KH/TU về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng của đội ngũ đảng viên được các cấp ủy Đảng tập trung thực hiện, đạt những kết quả tích cực. Các cấp ủy đã chủ động hơn trong công tác lãnh đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương; công tác cán bộ được thực hiện đồng bộ, đúng quy trình; quy chế hoạt động của các cấp ủy được xây dựng phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị; chất lượng sinh hoạt Đảng được nâng lên, công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng chuyển biến mạnh; việc quản lý, đánh giá đảng viên được chặt chẽ hơn.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có những chuyển biến mới theo tinh thần Nghị quyết số 14-NQ/TW của Trung ương. Ngay sau Đại hội lần thứ III, trên cơ sở thực hiện Điều lệ Đảng khoá X (sửa đổi, bổ sung), Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tổ chức quán triệt kịp thời và đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và các hướng dẫn của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, các kế hoạch, chương trình hành động của Tỉnh ủy về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, tiến hành xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát cho toàn khóa và cụ thể hóa ở từng năm để thực hiện. Nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng và đảng viên đối với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng tiếp tục được nâng cao, chuyển biến tích cực, khắc phục được tư tưởng xem công tác kiểm tra là trách nhiệm của uỷ ban kiểm tra các cấp.

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đã tổ chức kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng 5 đợt đối với 64 tổ chức Đảng cấp dưới, kiểm tra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở 14 cơ sở và tổ chức 35 cuộc giám sát chuyên đề. Ngoài ra, thông qua sự phân công phụ trách cơ sở của Ban Thường vụ Huyện ủy, 100% ủy viên Ban Chấp hành huyện Đảng bộ đã tham gia giám sát 792 lượt đối với hoạt động, sinh hoạt của chi, đảng bộ trực thuộc; qua đó đã hỗ trợ, hướng dẫn cơ sở trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, đồng thời đóng góp, nhắc nhở kịp thời những thiếu sót, góp phần ngăn ngừa, hạn chế những vi phạm có thể xảy ra.

Các cấp ủy trong toàn Đảng bộ huyện đã chủ động trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng qui định; chú trọng thực hiện theo phương châm giáo dục, phòng ngừa ngăn chặn là chính, đồng thời xử lý nghiêm, kịp thời những đảng viên có sai phạm, đảm bảo tính nghiêm minh trong kỷ luật của Đảng. Trong nhiệm kỳ qua, các tổ chức Đảng và Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy đã xử lý kỷ luật 73 trường hợp đảng viên vi phạm, giảm 21,6% so với nhiệm kỳ trước (giảm 21 trường hợp) với các hình thức: khiển trách 31, cảnh cáo 29, cách chức 09, khai trừ 4 cho ra khỏi Đảng 03 đảng viên do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, tự nguyện xin ra khỏi Đảng.

Phương thức lãnh đạo của Đảng bộ huyện tiếp tục được đổi mới, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trên các lĩnh vực. Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá III có những nội dung đổi mới, phân định rõ ràng hơn, cụ thể hơn nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, lề lối làm việc của các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Huyện ủy và các cơ quan tham mưu của Huyện ủy. Nội dung các nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện được xây dựng theo hướng cụ thể, ngắn gọn, đi thẳng vào các vấn đề trọng tâm, trọng điểm. Các chương trình làm việc toàn khoá được xây dựng theo hướng toàn diện, coi trọng việc tổ chức sơ, tổng kết thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Hoạt động của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, các vấn đề đều được thảo luận và quyết định theo hướng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Việc thực hiện chất vấn trong Đảng được triển khai thực hiện, trở thành nội dung chính thức trong chương trình hội nghị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, góp phần tích cực trong việc phát huy dân chủ, nâng cao hơn nữa trách nhiệm cá nhân của từng cấp uỷ viên và năng lực lãnh đạo của tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ huyện. Việc kiểm tra, giám sát thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng được chú trọng. Chế độ thông tin, báo cáo của các ngành, các cấp được thực hiện nghiêm, kịp thời, chính xác phục vụ hiệu quả cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy. Nhìn chung, trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ huyện luôn thực hiện có hiệu quả chủ trương đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị địa phương và hàng năm đều được đánh giá là một trong những đơn vị đi đầu của tỉnh về địa phương có tốc độ phát triển kinh tế cao; đặc biệt là năm 2009 được trao tặng cờ thi đua xuất sắc cho đơn vị dẫn đầu của tỉnh.

Đạt được những kết quả tích cực, rất quan trọng nêu trên là do:

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã vận dụng sáng tạo, có hiệu quả các chủ trương, quan điểm của Đảng để đề ra những chủ trương, nghị quyết phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm, sát với thực tiễn nhằm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đạt kết quả các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Bên cạnh đó, các cấp ủy cơ sở Đảng đã phát huy tinh thần chủ động, nhạy bén trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị; thường xuyên cải tiến phong cách, phương pháp lãnh đạo, lề lối làm việc theo hướng hiệu quả, sâu sát và hướng về cơ sở.

Một nguyên nhân rất quan trọng, góp phần tích cực đối với việc hoàn thành các nhiệm vụ chính trị theo Nghị quyết Đại hội lần thứ III Đảng bộ huyện, đó là sự đoàn kết thống nhất, đồng tâm nỗ lực của các ngành, các cấp, của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân đã khắc phục khó khăn, thi đua thực hiện hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị chung của Đảng bộ.

Bên cạnh đó, những kết quả tích cực, thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, xây dựng Đảng, hệ thống chính quyền và đoàn thể các cấp trong những nhiệm kỳ trước là nền tảng quan trọng, tạo đà thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện trong nhiệm kỳ qua.

Đạt được kết quả nêu trên còn có nguyên nhân quan trọng từ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và sự hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời của các ban ngành, đoàn thể tỉnh đã giúp cho Đảng bộ huyện tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị.

II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM

Cùng với những kết quả tích cực đạt được, quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện trong nhiệm kỳ vừa qua cũng còn một số mặt tồn tại, hạn chế nhất định trên từng lĩnh vực.

1. Kinh tế phát triển nhanh nhưng chưa thật sự bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương

Công nghiệp trên địa bàn huyện phát triển mạnh nhưng phần lớn là các ngành nghề sử dụng lao động gia công, lao động giản đơn, có giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học, kỹ thuật chưa cao; tình trạng thiếu hụt lực lượng lao động, kể cả lao động phổ thông trong các doanh nghiệp có chiều hướng tăng. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật tuy có phát triển nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, còn thiếu tính kết nối với các khu vực lân cận. Công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch còn nhiều mặt bất cập, chưa đạt hiệu quả cao.

Lĩnh vực dịch vụ tuy có sự tăng trưởng nhưng chưa tương xứng với tốc độ phát triển của ngành công nghiệp, sức cạnh tranh kém; chưa hình thành được các khu trung tâm thương mại đầu mối. Hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái trên địa bàn còn mang tính tự phát, quy mô đầu tư thấp nên chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Chương trình trọng tâm về chuyển dịch và đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn thực hiện chưa rõ nét. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm, giá trị trên một đơn vị diện tích còn thấp. Sản xuất nông nghiệp chưa mang tính tập trung, công nghiệp hóa cao, hiệu quả còn hạn chế, chưa có tính liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ. Mô hình kinh tế tập thể tuy phát triển về số lượng nhưng chất lượng hoạt động còn nhiều hạn chế.

Việc xử lý ô nhiễm môi trường (rác thải, nước thải, khí thải…) tuy được tập trung thực hiện nhưng kết quả chưa cao, còn nhiều vấn đề bức xúc. Khối lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn ngày càng nhiều nhưng chưa có nhà máy xử lý. Công tác quản lý khai thác tài nguyên trên địa bàn có lúc, có nơi vẫn chưa chặt chẽ.

2. Lĩnh vực văn hóa - xã hội còn những mặt hạn chế, chưa được giải quyết tốt

Ngành giáo dục - đào tạo tuy có bước phát triển về quy mô, cơ sở vật chất nhưng hiệu quả giáo dục chưa cao, chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển của địa phương Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp bậc học trung học phổ thông còn đạt thấp so với mặt bằng chung trong tỉnh. Số học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp Quốc gia chưa nhiều. Số lượng trường mầm non tuy có tăng so với nhiệm kỳ trước nhưng còn thiếu so với nhu cầu thực tế. Hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm văn hóa thể thao ở cơ sở còn rất hạn chế. Đội ngũ cán bộ y tế có trình độ chuyên môn cao còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Chưa xây dựng được xã văn hóa theo chỉ tiêu NQ đề ra. Một số quy hoạch chưa thực hiện được như việc xây dựng 100% xã có trung tâm văn hóa - thể thao, triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp thể dục thể thao thành phố mới Nhơn Trạch. Chưa xây dựng được Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về nâng cao chất lượng thực hiện Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn khu dân cư.

Việc chuyển đổi nghề nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động từ khu vực nông nghiệp chuyển sang khu vực phi nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do trình độ văn hóa các đối tượng hạn chế, thiếu tay nghề chuyên môn; đồng thời chưa có mô hình đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp.

3. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn những yếu tố chưa ổn định

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở một số địa phương có thời điểm còn diễn biến phức tạp. An ninh nông thôn, an ninh tôn giáo tiềm ẩn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị trên địa bàn. Các loại tội phạm, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng hàng năm; tai nạn giao thông tuy có giảm nhưng kết quả chưa bền vững. Tình trạng công nhân đình công, lãn công vẫn còn xảy ra.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tuy được chú trọng thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao. Đơn thư khiếu nại, tố cáo có chiều hướng gia tăng, công tác giải quyết có lúc còn chậm. Công tác giải quyết án dân sự và việc thi hành án dân sự còn hạn chế; số vụ, việc còn tồn đọng nhiều. Công tác tiếp dân, đối thoại và công tác hòa giải ở một số cơ sở hiệu quả đạt được còn thấp, kết quả hòa giải thành chưa cao.

4. Hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước trên một số lĩnh vực còn những hạn chế nhất định

Việc thực hiện các kiến nghị của đại biểu HĐND huyện sau giám sát chưa triệt để. Hoạt động trả lời chất vấn của cử tri của một số đơn vị thực hiện chậm, chưa thỏa đáng, có những trường hợp kiến nghị nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết. Công tác cải cách thủ tục hành chính tuy bước đầu đạt được kết quả nhưng chưa thực sự đáp ứng nhiệm vụ đặt ra. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, các địa phương chưa đồng bộ. Công tác quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực kinh tế, xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc chậm giải quyết.

5. Công tác vận động quần chúng có mặt còn hạn chế, chưa thực sự huy động sức mạnh của các tầng lớp nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị

Hoạt động của một số đoàn thể, nhất là ở cấp cơ sở chưa đi sâu vào nội dung, thực chất, còn biểu hiện hình thức hoặc nặng về hành chính. Công tác dân vận trong một số cơ quan, ban ngành chưa thực sự được quan tâm chỉ đạo thực hiện nên có vụ việc, có thời điểm chưa sát với nhân dân, dẫn đến các trường hợp khiếu nại kéo dài, vượt cấp.

Công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đoàn viên, hội viên chưa đạt hiệu quả cao do chậm đổi mới về nội dung và hình thức trong tuyên truyền. Tuy số lượng đoàn viên, hội viên các đoàn thể đông nhưng chưa mạnh, chưa phát huy được vai trò nòng cốt trong các phong trào quần chúng, phong trào thi đua yêu nước. Một số đoàn, hội chưa tham mưu tốt cho cấp ủy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động quần chúng. Trong nhân dân vẫn còn một bộ phận chưa thật sự nắm vững, thông hiểu các quy định pháp luật của Nhà nước, bị các đối tượng xấu lợi dụng để lôi kéo, xúi giục tham gia các vụ đình công, khiếu kiện, khiếu nại chưa đúng luật định.

6. Công tác xây dựng Đảng ở một số mặt chưa đạt yêu cầu

Một bộ phận nhỏ cán bộ, đảng viên chưa thật sự tự giác tham gia nghiên cứu, học tập nghị quyết của Đảng hoặc có tham gia nhưng tinh thần và thái độ học tập chưa nghiêm túc. Công tác sơ, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là ở cơ sở, có thời điểm thực hiện còn chậm. Tình hình nắm bắt và phản ánh dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời. Chất lượng hoạt động của các chi bộ cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn hạn chế. Việc cụ thể hoá nghị quyết của Đảng, xây dựng kế hoạch, chương trình của một số ít cơ sở chưa sát thực tiễn của địa phương, đơn vị; trong tổ chức triển khai thực hiện thiếu kiểm tra, giám sát nên hiệu quả chưa cao.

Công tác phát triển đảng viên mới trong đội ngũ giáo viên tuy đạt cao về số lượng nhưng chưa đạt chỉ tiêu về xây dựng chi bộ trong trường học và phát triển đảng viên trong đội ngũ ban giám hiệu các trường (chỉ tiêu NQ - 100%). Vẫn còn tổ chức cơ sở Đảng có nguồn trung kiên nhưng chưa phát triển được đảng viên mới. Đội ngũ cán bộ tuy có đảm bảo về số lượng nhưng chất lượng và cơ cấu còn nhiều mặt hạn chế, hụt hẫng về lực lượng cán bộ kế cận, nhất là cán bộ cơ sở.

Công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ ở một số lĩnh vực, cơ sở chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, chưa đủ sức giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Công tác quy hoạch cán bộ ở một số cơ quan, đơn vị chưa được tập trung, chú trọng, chất lượng quy hoạch chưa cao.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu:

Một là, một số cấp ủy cơ sở chưa thật sự năng động, nhạy bén trong vai trò lãnh đạo toàn diện; phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc có mặt chậm đổi mới. Việc vận dụng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và của cấp ủy cấp trên còn hạn chế. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chấp hành Điều lệ Đảng ở một số tổ chức cơ sở Đảng chưa thực sự được quan tâm; chưa kịp thời phát hiện, ngăn chặn những vi phạm của đảng viên.

Hai là, công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý của Nhà nước trên một số lĩnh vực, đối với một số ngành, địa phương có lúc còn lúng túng, chưa sâu sát, thiếu kiên quyết dẫn đến sự phối hợp giữa các ngành, các cấp có thời điểm chưa đồng bộ, chặt chẽ, đạt hiệu quả chưa cao. Đối với một số chính quyền địa phương có thời điểm chưa thực hiện chặt chẽ các mặt trong công tác quản lý Nhà nước trên từng lĩnh vực, thiếu kiểm tra, đôn đốc, chưa kịp thời xử lý những vấn đề vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Bên cạnh đó, một số cơ quan nhà nước, đoàn thể, chính quyền cơ sở chưa thật sự chủ động và phối hợp chặt chẽ để đề ra các giải pháp, kế hoạch sát hợp với tình hình thực tiễn; còn trông chờ sự chỉ đạo từ cấp trên hoặc có tư tưởng chủ quan trước tình hình, diễn biến thực tế.

III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

1. Đánh giá tổng quát:

Trong nhiệm kỳ vừa qua, Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị theo đúng định hướng và mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng. Các nguồn vốn đầu tư tiếp tục tăng cao, nhất là nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Các công trình hạ tầng kỹ thuật được đầu tư, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Văn hóa - xã hội có sự tiến bộ trên nhiều mặt. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên so với trước; công tác giảm nghèo đạt những kết quả tích cực. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững, ổn định. Công tác vận động quần chúng và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể đạt được những kết quả nhất định. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được mở rộng, góp phần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng trên cả 3 mặt tư tưởng chính trị, tổ chức và kiểm tra.

Tuy nhiên, tổng kết thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng bộ huyện cho thấy bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn những mặt hạn chế nhất định. Kinh tế tuy có bước phát triển nhanh nhưng chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có của địa phương. Các vấn đề xã hội mang tính bức xúc chậm được giải quyết. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có lúc, có nơi biểu hiện tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Công tác điều hành, quản lý của nhà nước còn những bất cập trên một số lĩnh vực. Công tác vận động quần chúng chưa thật sự phát huy hết nguồn lực các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Một số cấp ủy cơ sở chậm đổi mới về phương thức lãnh đạo, còn phong cách làm việc thụ động. Hiện tượng cán bộ, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng vẫn còn xảy ra.

2. Những bài học kinh nghiệm:

Từ thực tiễn quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III trong nhiệm kỳ vừa qua, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị như sau:

Thứ nhất, trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Huyện ủy luôn bám sát các chủ trương, quan điểm, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; đồng thời, có sự chủ động, sáng tạo trong vận dụng các chủ trương, quan điểm, nghị quyết của Đảng phù hợp với tình hình thực tiễn và điều kiện của địa phương, cụ thể hóa thành những kế hoạch, chương trình hành động với những mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, có tính đột phá, thúc đẩy cao để tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Song song đó, cần chú trọng thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nhằm kịp thời phát hiện, chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nâng cao vai trò và tinh thần trách nhiệm của các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng.

Thứ hai, công tác chính trị tư tưởng và công tác dân vận phải được đặc biệt quan tâm và triển khai thực hiện kịp thời, nghiêm túc, có tính tập trung cao nhằm đưa các quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng lan tỏa rộngsớm đi vào cuộc sống, tạo nên sự đồng tâm, nhất trí cao trong hệ thống chính trịsự đồng thuận về “ý Đảng, lòng dân” trong các tầng lớp nhân dân.

Đồng thời, chú trọng phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ theo nghị quyết của Đảng, xem đây là yếu tố quan trọng, có tính quyết định đến thắng lợi của quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ.

Thứ ba, quan tâm phát triển kinh tế phải đi đôi với chú trọng giải quyết tốt các vấn đề xã hội, chăm lo nâng cao đời sống của người dân; trong đó, cần tập trung thực hiện tốt các vấn đề về an sinh xã hội, chuyển đổi nghề nghiệp, giải quyết việc làm, các chính sách về bồi thường, giải tỏa, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn… nhằm hạn chế những ảnh hưởng, tác động tiêu cực do những bất ổn nảy sinh từ các vấn đề xã hội bức xúc trong nhân dân.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ, gìn giữ môi trường theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính, kết hợp với tập trung xử lý hiệu quả tình trạng ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường, góp phần hạn chế các tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường, điều kiện sống ở địa phương trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế, đô thị hóa nhanh và tốc độ gia tăng dân số cơ học cao.

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN HUYỆN NHƠN TRẠCH GIAI ĐOẠN 5 NĂM 2010 - 2015

I. DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2015

Trong giai đoạn sắp tới, tình hình thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện sẽ diễn ra trong điều kiện có nhiều thuận lợi cơ bản nhưng cũng không ít những khó khăn, thách thức mới.

Về mặt thuận lợi, nước ta bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện, mở ra nhiều cơ hội thu hút mạnh mẽ đầu tư phát triển đối với các vùng, miền; trong đó, huyện Nhơn Trạch với lợi thế và tiềm năng chưa được khai thác hết, sẽ tiếp tục là địa bàn thu hút nhiều dự án đầu tư có nguồn vốn lớn trong và ngoài nước. Chất lượng tăng trưởng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của địa phương có những cải thiện đáng kể, đặc biệt là sự chuyển dịch từ tập trung phát triển công nghiệp sang phát triển thương mại - dịch vụ, hình thành các khu dân cư đô thị sẽ tạo điều kiện tăng nhanh về hiệu quả và tính bền vững trong phát triển kinh tế của địa phương.

Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, quá trình thực hiện nhiệm vụ trong nhiệm kỳ sắp tới của Đảng bộ huyện cũng sẽ có không ít những khó khăn, thách thức. Nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, vấn đề thiếu hụt lực lượng lao động sẽ ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất trên địa bàn. Trên lĩnh vực đời sống xã hội, các vấn đề về nhu cầu nhà ở, đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp, giải quyết việc làm, các loại tội phạm, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình dịch bệnh, tình trạng ô nhiễm môi trường, bất lợi thời tiết do biến đổi khí hậu toàn cầu,… tiếp tục là những yếu tố tác động bất lợi đến quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện.

II. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG TỔNG QUÁT GIAI ĐOẠN 5 NĂM 2010 - 2015

1. Mục tiêu tổng quát

Tập trung huy động các nguồn lực trong và ngoài địa bàn, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của huyện để phát triển kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao đi đôi với quan tâm giải quyết tốt các vấn đề xã hội; bảo đảm ổn định an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ huyện trong giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh phát triển thành phố Nhơn Trạch đến năm 2020 đạt tiêu chí đô thị loại II và trở thành một trong các trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ, du lịch, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ của tỉnh, của vùng trọng điểm kinh tế phía Nam.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

- Giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên địa bàn tăng bình quân 17%/năm. Trong đó:

+ Ngành công nghiệp - xây dựng tăng 18 - 19%.

+ Ngành dịch vụ tăng 21 - 22%.

+ Ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng 2,5 - 3%.

- Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng bình quân từ 21 - 22%/năm.

- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tăng trên 33%/năm.

- Giá trị sản xuất toàn ngành nông - lâm - ngư nghiệp từ 3,5 - 4%/năm.

- Về cơ cấu kinh tế đến năm 2015:

+ Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 52%.

+ Tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 42%.

+ Tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 6%.

- Thu nhập bình quân đầu người đạt 38.400.000 đồng/người/năm.

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 5 năm (2011 - 2015) phấn đấu đạt trên 56.000 tỷ đồng.

- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn phấn đấu thực hiện đạt và vượt dự toán hàng năm được giao.

- Duy trì tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,1%. Quy mô dân số đến năm 2015 đạt 398.000 người.

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 2 tuổi bị suy dinh dưỡng còn dưới 6% và tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn dưới 10%.

- Phấn đấu đến năm 2015 có bình quân 20 giường bệnh và có từ 4 - 5 bác sỹ trên vạn dân.

- Giữ vững kết quả và nâng cao chất lượng thực hiện công tác xóa mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và bậc trung học. Đạt tỷ lệ huy động 80% trẻ trong độ tuổi đi nhà trẻ vào năm 2015.

- Phấn đấu trên 98% hộ gia đình được công nhận danh hiệu gia đình văn hóa, 100% ấp đạt danh hiệu ấp văn hóa, 20% xã đạt các tiêu chí xã nông thôn mới[15] và 100% cơ quan, đơn vị được công nhận có đời sống văn hóa tốt.

- Giải quyết việc làm cho trên 25.000 lao động; trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo hàng năm đạt trên 65%.

- Phấn đấu hàng năm giảm 30% số hộ nghèo có trên địa bàn.

- Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 100% tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt 98%.

- Thu gom và xử lý theo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường 100% các loại rác thải công nghiệp không độc hại, rác thải đô thị, chất thải rắn độc hại.

- Giữ vững an ninh chính trị và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống. Phấn đấu đạt các mục tiêu do tỉnh giao hàng năm về phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông trên địa bàn.

- Hoàn thành chỉ tiêu giao quân hàng năm và đạt về chất lượng, số lượng ở cả hai cấp huyện và xã. Thực hiện đạt chỉ tiêu xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên.

- Đảm bảo tỷ lệ tập hợp số người trong độ tuổi tham gia vào các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội đạt tỷ lệ từ 87% trở lên. Riêng tỷ lệ tập hợp vào Đoàn Thanh niên đạt từ 50% và Hội Liên hiệp Thanh niên đạt từ 65% trở lên.

- Đảm bảo tỷ lệ đoàn viên, hội viên tham gia sinh hoạt và công tác thường xuyên đạt từ 80% trở lên. Tỷ lệ lực lượng đoàn viên, hội viên nòng cốt trong các đoàn thể chính trị - xã hội đạt từ 45% trở lên phấn đấu từng đoàn thể có trên 85% cơ sở vững mạnh, không có cơ sở yếu kém.

- Phấn đấu đến năm 2015, đội ngũ cán bộ, công chức các cấp của huyện đều đạt chuẩn theo quy định.

- Phấn đấu tỷ lệ kết nạp đảng viên mới đạt từ 8%/năm trở lên so với tổng số đảng viên có tại thời điểm cuối mỗi năm.

- Thành lập mới từ 08 đến 12 tổ chức cơ sở Đảng và từ 08 đến 10 tổ chức đoàn, hội thanh niên trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn.

- Đảm bảo tỷ lệ đảng viên tham gia học tập, quán triệt các nghị quyết của Đảng đạt trên 98%/năm (trừ các đồng chí được miễn sinh hoạt). 

- Phấn đấu hàng năm có trên 80% tổ chức cơ sở đảng đạt danh hiệu “trong sạch, vững mạnh”; có trên 80% đảng viên được công nhận đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ.

- Phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ có 100% trường học xây dựng được chi bộ; 100% tổ chức cơ sở Đảng có nguồn trung kiên phát triển được đảng viên mới.

III. NHỮNG NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Về phát triển kinh tế

a) Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại hoá nhằm tạo động lực thúc đẩy kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao; chú trọng gắn kết với yếu tố bảo vệ môi trường

Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp - thương mại, dịch vụ - nông nghiệp. Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân từ 21 - 22%/năm. Chú trọng phát triển công nghiệp gắn với phát triển về dịch vụ, các khu dân cư đô thị và bảo vệ môi trường. Định hướng ưu tiên, chọn lọc trong việc kêu gọi, thu hút các dự án đầu tư phát triển các ngành công nghiệp sạch, công nghiệp phụ trợ, có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn.

Tích cực phối hợp với các ngành tỉnh kêu gọi, thu hút đầu tư vào địa bàn, nhất là các dự án có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) và trong nước có nguồn vốn, quy mô lớn đầu tư vào các ngành, lĩnh vực đã xác định phù hợp với quy hoạch. Tiếp tục chú trọng thực hiện có hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính; tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn.

Thực hiện tốt qui hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Có giải pháp cụ thể để định hướng và hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, nhất là những ngành nghề chế biến, ngành nghề truyền thống, sử dụng nguyên vật liệu, lao động tại chỗ nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ cho khu công nghiệp và yêu cầu của quá trình đô thị hóa.

Đảm bảo tiến độ giải phóng mặt bằng, giao đất đối với các dự án đầu tư đã thực hiện thủ tục giới thiệu địa điểm. Tập trung hoàn thành công tác bồi thường, giao đất khu công nghiệp Ông Kèo, khu công nghiệp Nhơn Trạch VI và hoàn thiện nhanh hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp huyện để thu hút đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp. Đồng thời, chú trọng đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các khu tái định theo phương châm công tác tái định cư phải đi trước một bước so với công tác giải phóng mặt bằng nhằm kịp thời bố trí, ổn định chỗ ở và cuộc sống của người dân thuộc diện Nhà nước thu hồi đất triển khai thực hiện dự án.

Tiếp tục củng cố tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ thực hiện công tác bồi thường; tăng cường tinh thần trách nhiệm của từng cơ quan, cán bộ chuyên môn nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả, kết quả thực hiện công tác bồi thường, giải tỏa đảm bảo chính xác, phù hợp với quy định của pháp luật, tạo sự đồng thuận trong nhân dân và kịp thời triển khai các dự án trên địa bàn.

b) Tập trung huy động các nguồn lực phát triển nhanh, đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn và các khu dân cư đô thị theo quy hoạch

Tăng cường huy động mọi nguồn lực, trong đó nguồn ngân sách ưu tiên cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội của huyện, trong đó chú trọng tập trung đầu tư hạ tầng khu vực được định hướng phát triển đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại, gắn kết với hệ thống hạ tầng của các địa phương lân cận.

Tiếp tục thực hiện định hướng phát triển đô thị giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020. Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác lập quy hoạch xây dựng và đẩy mạnh việc phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại. Chú trọng ưu tiên xây dựng các công trình trọng điểm, có hiệu suất sử dụng cao như các khu dân cư đô thị tập trung, hạ tầng giao thông, viễn thông và các hạ tầng dịch vụ khác.

Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về xây dựng, đảm bảo tiến độ, khối lượng, chất lượng, hiệu quả trong hoạt động đầu tư, xây dựng. Huy động các nguồn lực để phát triển nhanh về diện tích nhà ở với các loại hình thức hợp nhằm giải quyết cơ bản nhu cầu nhà ở và nâng cao điều kiện sống của dân cư địa phương, lực lượng cán bộ, công nhân làm việc ở các cơ quan, đơn vị, các cơ sở kinh doanh và các khu công nghiệp.

Tiếp tục triển khai xây dựng các cơ quan hành chính trong khu trung tâm huyện. Đôn đốc tiến độ triển khai xây dựng các khu dân cư đô thị, nhất là các khu dân cư trong khu trung tâm huyện và trong khu trung tâm thành phố mới Nhơn Trạch. Tạo điều kiện cho nhà đầu tư sớm hoàn thành qui hoạch chi tiết 1/500 và chuẩn bị khởi công xây dựng khu trung tâm thành phố 600ha. Thực hiện tốt chương trình nhà ở cho người có thu nhập thấp và nhà ở cho công nhân trên địa bàn. Hoàn thành xây dựng các khu tái định cư Phước Thiền, Phú Hội, Long Thọ.

Tạo điều kiện cho việc triển khai thi công các công trình trọng điểm giao thông liên kết với các địa phương ngoài huyện. Đồng thời tiếp tục có kế hoạch thực hiện các đường giao thông chính của huyện theo các qui hoạch, hoàn thành xây dựng hạ tầng khu trung tâm huyện mở rộng 347ha. Phối hợp chặt chẽ với các ngành tỉnh, các chủ đầu tư triển khai các công trình xây dựng cơ bản, công trình giao thông trọng điểm: đường cao tốc Tp. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây; cầu, đường nối Quận 9, Tp. Hồ Chí Minh - Nhơn Trạch, đường 25C, mở rộng đường 25A, 25B, nâng cấp tuyến đê Ông Kèo thành tuyến đường giao thông chính... Đẩy mạnh thực hiện chương trình XHHGTNT để kết nối tốt mọi khu dân cư với các đường chính nhằm từng bước hình thành hệ thống giao thông đồng bộ, liên hoàn.

Hình thành một số bến xe ở các đầu mối giao thông. Tiếp tục phát triển mạng lưới điện quốc gia, hệ thống chiếu sáng và mở rộng mạng lưới thông tin liên lạc đảm bảo phủ sóng toàn địa bàn với công nghệ hiện đại, chất lượng cao. Phối hợp chặt chẽ cùng ngành tỉnh để tiếp tục xây dựng, phát triển hệ thống cấp nước sinh hoạt cho nhân dân từ nhà máy nước Thiện Tân và nhà máy nước ở các khu vực.

Hỗ trợ, tạo mọi điều kiện cho các chủ đầu tư triển khai đầu tư xây dựng các cảng trên địa bàn cùng với các tuyến đường kết nối cảng với hệ thống giao thông trên địa bàn. Phấn đấu tạo mọi điều kiện để đến năm 2015 cơ bản có một số cảng đi vào hoạt động phục vụ tốt các khu công nghiệp và đáp ứng kịp thời nhu cầu vận chuyển hàng hóa trên địa bàn.

Thực hiện tốt công tác công bố, công khai các qui hoạch được duyệt. Tăng cường thực hiện tốt công tác quản lý xây dựng theo qui hoạch trong các khu dân cư, điểm dân cư nông thôn; thường xuyên thực hiện tốt công tác kiểm tra việc xây dựng các công trình, nhà ở... đảm bảo thực hiện đúng qui hoạch. Làm tốt công tác quản lý các khu vực đã được qui hoạch cây xanh, đất dự trữ phát triển sau năm 2020. Vận động các nhà đầu tư thực hiện các dự án công viên - cây xanh để từng bước tạo cảnh quan đô thị mới.

c) Đẩy mạnh phát triển lĩnh vực dịch vụ nhằm từng bước tăng dần tỷ trọng của ngành trong cơ cấu kinh tế. Nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động tài chính - tín dụng

Thực hiện quy hoạch phát triển thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến 2020. Trong đó chú trọng phát triển mạng lưới chợ, trung tâm thương mại, siêu thị gắn với quy hoạch các khu dân cư, khu công nghiệp, cụm cảng, du lịch; đồng thời phát triển các dịch vụ tài chính ngân hàng, công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, vận tải, bảo hiểm, y tế …

Tạo điều kiện phát triển các ngành dịch vụ trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại để phục vụ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, phát triển đô thị và nông thôn mới. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhanh và mạnh các ngành dịch vụ chất lượng cao để phục vụ nhu cầu ngày càng tăng ở các khu công nghiệp, đô thị và nhu cầu của nhân dân trên địa bàn, nhất là dịch vụ tài chính, ngân hàng, công nghệ - thông tin, viễn thông, vận tải, bảo hiểm, y tế, tư vấn.

Đôn đốc và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư triển khai xây dựng nhanh hạ tầng thương mại - dịch vụ như các dự án dân cư, đô thị, du lịch, các cụm cảng, trung tâm thương mại, chợ, siêu thị, bến bãi… để tạo nhu cầu cho phát triển các loại hình dịch vụ khác. Tập trung đôn đốc triển khai xây dựng và sớm đưa vào hoạt động các cụm cảng Phú Hữu, Phước An và hệ thống cảng theo quy hoạch nhóm cảng biển số 5 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển mạnh ngành dịch vụ.

Chú trọng mở rộng hệ thống bưu chính - viễn thông ở khu vực nông thôn, các khu vực vùng xa của huyện. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ nhà ở, dịch vụ giải trí, văn hóa cho công nhân. Tập trung đầu tư, hình thành các khu thương mại - dịch vụ theo quy hoạch được duyệt; tạo điều kiện hình thành dần một số siêu thị tại các khu dân cư tập trung và phát triển mạng lưới chợ ở các xã theo quy hoạch.

Huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau để đầu tư, khai thác các tuyến, các khu du lịch được quy hoạch như Khu du lịch Ông Kèo, Làng văn hóa...; nâng cấp các điểm du lịch đã có để bảo đảm phát triển đúng quy hoạch, có chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cao.

Phấn đấu thực hiện đạt và vượt dự toán thu ngân sách Nhà nước tỉnh giao hàng năm. Đảm bảo quản lý chặt và khai thác tốt các nguồn thu. Tuân thủ đúng định mức, kế hoạch trong thực hiện chi ngân sách. Quan tâm bố trí nguồn để đảm bảo cho chi đầu tư XDCB và chi phát triển giáo dục - đào tạo, y tế. Tiếp tục mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng. Phát huy ưu thế của địa phương có công nghiệp phát triển để đẩy mạnh huy động và khai thác hiệu quả các nguồn vốn để đảm bảo cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Cải tiến và mở rộng các hình thức huy động vốn, hoạt động dịch vụ ngân hàng.

d) Phát triển ngành nông nghiệp theo hướng chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp nông thôn sang nông nghiệp đô thị

Tập trung thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và có bước chuyển dần sản xuất nông nghiệp nông thôn sang nông nghiệp đô thị. Phấn đấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy giai đoạn 2011- 2015 tăng bình quân hàng năm 3,5-4 % (giá so sánh 1994). Tiếp tục chú trọng nâng cao tỷ trọng ngành dịch vụ nông nghiệp, chăn nuôi (thủy sản) trong cơ cấu ngành nông nghiệp. Đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Phát triển các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung, các vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến, trong đó tập trung xây dựng vùng nguyên liệu mía tại các xã vùng Ông Kèo và vùng rau chuyên canh ở Long Thọ. Triển khai thực hiện tốt các dự án thành phần của đồ án qui hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng đô thị đến năm 2020.

Có biện pháp hỗ trợ kinh tế trang trại phát triển và nâng cao hiệu quả, khắc phục tình trạng tự phát, hiệu quả thấp. Đồng thời có biện pháp để phát triển kinh tế hộ (như tăng tín dụng, hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề…). Có giải pháp tiêu thụ nông sản cho nông dân, khuyến khích thực hiện liên kết giữa các doanh nghiệp với nông dân trong đầu tư sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa. Có biện pháp khai thác hết diện tích đất nông nghiệp; ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp; đồng thời, chú trọng thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi; làm tốt công tác thủy lợi, phòng chống lụt bão; bảo đảm năng suất các loại cây trồng, vật nuôi chính không ngừng tăng.

Giữ vững, ổn định diện tích rừng ngập mặn theo mục đích rừng phòng hộ, cân bằng môi trường sinh thái cho thành phố Nhơn Trạch. Làm tốt công tác quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng và chăm sóc tốt diện tích rừng đã có; tiếp tục phủ xanh cho những diện tích đất còn khả năng phát triển lâm nghiệp. Đảm bảo tỷ lệ che phủ rừng đạt 31-32%.

Tiếp tục phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ; khuyến khích các hộ nông dân phát triển các hình thức hợp tác theo Luật Hợp tác xã. Chú trọng phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các hợp tác xã và các tổ hợp tác kinh tế. Triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển nông thôn mới đối với các xã. Hoàn thành dự án đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn từ nay đến năm 2015 của huyện; tiếp tục phát triển các ngành nghề, dịch vụ nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo thêm nhiều việc làm cho lao động và có định hướng từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp và dịch vụ. Thực hiện có hiệu quả công tác khuyến công gắn với giải quyết việc làm, nhất là cho các hộ dân thuộc diện thu hồi đất, tái định cư. Tiếp tục thực hiện các chương trình đào tạo nghề cho lực lượng lao động, bảo đảm nguồn nhân lực cho nông nghiệp nông thôn, quan tâm đào tạo nghề cho lao động lớn tuổi, lao động thuộc diện bị thu hồi đất.

2. Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường

Tăng cường công tác quản lý chặt chẽ việc khai thác các nguồn tài nguyên, khoáng sản. Tổ chức khai thác các mỏ khoáng sản phục vụ nhu cầu xây dựng trên địa bàn theo quy hoạch. Kiên quyết ngăn chặn khai thác trái phép tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn. Thực hiện chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường, nâng cao năng lực quản lý tài nguyên - môi trường.

Tiếp tục quán triệt và thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Tăng cường truyền thông, tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về trách nhiệm giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường, xem đây là trách nhiệm của toàn xã hội.

Tăng cường công tác quản lý môi sinh, môi trường trên địa bàn; phát hiện kịp thời và có biện pháp xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các sông suối, các khu công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư tập trung... Phối hợp với các ngành tỉnh chỉ đạo các đơn vị đầu tư các khu công nghiệp xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung, đồng thời đôn đốc đẩy nhanh tiến độ xây dựng hoàn thiện các hệ thống xử lý nước thải đang triển khai ở các khu công nghiệp.

Tăng cường kiểm tra tình trạng nước thải công nghiệp trên địa bàn, đảm bảo nước thải công nghiệp từ các công ty, xí nghiệp phải qua xử lý và đạt tiêu chuẩn theo quy định, từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nguồn nước thải công nghiệp. Triển khai xây dựng hệ thống thoát nước thải sinh hoạt, nước mưa đủ khả năng xử lý tiêu thoát nước, không gây ngập lụt vào mùa mưa, đảm bảo xử lý 70% nước thải đô thị (trước khi tiêu thoát) vào năm 2015.

Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động xử lý, thu gom rác thải ở các khu dân cư tập trung; đồng thời thực hiện các giải pháp hiệu quả nhằm tổ chức tốt việc thu gom và xử lý theo đúng tiêu chuẩn vệ sinh môi trường các loại rác thải, chất thải trên địa bàn. Khuyến khích ứng dụng và chuyển giao các giải pháp công nghệ về xử lý rác thải, xử lý ô nhiễm. Kêu gọi, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải. Kiểm tra, di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm trong khu dân cư đến cụm công nghiệp tập trung.

Triển khai quy hoạch phát triển hệ thống công viên, dải cây xanh ở các khu đô thị, ven các sông lớn phục vụ cho nhu cầu giải trí, tạo không gian xanh cho đô thị mới. Quản lý chặt chẽ mật độ về xây dựng và mảng xanh đô thị.

3. Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và đẩy nhanh ứng dụng khoa học và công nghệ

Tiếp tục lãnh đạo thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/HU ngày 20/9/2006 của BCH Đảng bộ huyện về “Chương trình trọng tâm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2005 – 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”. Quy hoạch mạng lưới các trường ngoài công lập định hướng đến năm 2015 và những năm tiếp theo để làm cơ sở kêu gọi thu hút đầu tư vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề ngoài công lập, trong đó ưu tiên thu hút các dự án đầu tư phát triển giáo dục chất lượng cao, các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đào tạo các lĩnh vực về khoa học và công nghệ, kỹ thuật, quản lý, kinh tế...; khuyến khích các cơ sở giáo dục trên địa bàn hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo có chất lượng cao trong và ngoài nước.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Chú trọng đổi mới phương pháp dạy và học, thực hiện tốt công tác giáo dục toàn diện cho học sinh, nâng cao chất lượng và chuẩn hoá nghề nghiệp đối với đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo. Tiếp tục tăng cường đầu tư cơ sở vật chất các trường học theo hướng kiên cố, lầu hóa và đạt chuẩn Quốc gia, trong đó ưu tiên đầu tư trường mầm non bán trú ở các xã, đồng thời chú trọng trang bị đầy đủ các trang thiết bị dạy học. Hình thành trường trung học phổ thông trọng điểm, chất lượng cao của huyện nhằm tạo nguồn nhân lực cho yêu cầu phát triển của địa phương. Tiếp tục đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Quan tâm thực hiện tốt công tác vận động các tổ chức, cá nhân trao học bổng, hỗ trợ học sinh nghèo; động viên sinh viên là con em của huyện đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng và kêu gọi, thu hút sinh viên khi ra trường về làm việc theo nhu cầu của địa phương.

Tăng cường đầu tư các điều kiện đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập bậc trung học theo hướng đạt chuẩn quốc gia. Hạn chế mức thấp nhất tỷ lệ học sinh các cấp bỏ học. Củng cố và nâng cao hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng. Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện theo hướng liên kết đào tạo đa dạng, đa ngành nghề, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên của nhân dân ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi.

Quan tâm hỗ trợ, khuyến khích phát triển hoạt động khoa học và công nghệ như: nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã sản phẩm; bảo tồn và phát triển văn hóa di tích; các giải pháp nâng cao trình độ công nghệ; chuyển giao hoặc tư vấn chuyển giao công nghệ; hoạt động đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ... Ứng dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, vào các hoạt động dịch vụ, giáo dục và công tác y tế.

Đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động điều hành, quản lý nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều hành và giải quyết công việc của các cơ quan, hướng tới xây dựng nền hành chính hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả của trang thông tin điện tử (website) phục vụ cho công tác thông tin tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, kêu gọi đầu tư của địa phương; đồng thời, chủ động ứng dụng việc giải quyết một số thủ tục hành chính qua trang thông tin điện tử nhằm phát triển trang thông tin điện tử của huyện trở thành “cầu nối” giữa chính quyền với người dân và các tổ chức kinh tế, xã hội theo mô hình “Chính phủ điện tử”.

4. Phát triển văn hóa-xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Xây dựng đội ngũ cán bộ ngành y tế theo yêu cầu nâng cao chất lượng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Thực hiện có hiệu quả công tác y tế dự phòng, nâng cao năng lực giám sát, chủ động phát hiện và phòng chống kịp thời các loại dịch bệnh, nhất là các loại dịch bệnh phát sinh, có khả năng lây nhiễm cao trong cộng đồng dân cư. Chú trọng công tác kiểm tra hành nghề y dược tư nhân, kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, chống suy dinh dưỡng và tiêm chủng mở rộng đối với trẻ em. Đảm bảo thực hiện tốt các chính sách y tế cho đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi.

Quan tâm đầu tư trang thiết bị y tế ở cơ sở; đầu tư xây dựng Trung tâm y tế và nâng cấp Bệnh viện đa khoa huyện. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia đầu tư xây dựng các cơ sở điều trị, dưỡng bệnh trên địa bàn để đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Tiếp tục triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa nhằm huy động nguồn lực từ các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội tham gia xây dựng và phát triển văn hóa. Tổ chức có hiệu quả các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục – thể thao với nhiều nội dung, hình thức phong phú, thiết thực. Đưa hoạt động của các trung tâm văn hóa - thể thao các xã, hệ thống thư viện trên địa bàn và của huyện đi vào chiều sâu. Tăng cường công tác định hướng, quản lý chặt chẽ và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thông tin trên địa bàn.

Thực hiện tốt công tác bảo tồn di tích cách mạng, di tích lịch sử; tiếp tục sưu tầm các giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu của địa phương qua từng thời kỳ lịch sử; thu thập, lưu giữ các hình ảnh về hiện trạng trên địa bàn, nhất là ở các khu vực có sự thay đổi lớn, để làm tư liệu về quá trình phát triển của địa phương trong tương lai.

Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở địa bàn các khu dân cư. Tăng cường các biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội, xây dựng môi trường sống lành mạnh, an toàn tại các khu dân cư, doanh nghiệp, trường học...

Thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động địa phương theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động dịch vụ - thương mại và lao động công nghiệp. Chú trọng công tác đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn và nông dân ở nơi chuyển đất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Thực hiện tốt công tác khuyến công, tạo điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động nông thôn chuyển đổi sang lao động ở các ngành nghề khác. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và khai thác nhu cầu lao động từ các đơn vị này để giải quyết lượng lao động chưa có việc làm.

Thực hiện tốt các chế độ, chính sách theo các quy định hiện hành, trong đó chú ý công khai bổ sung kịp thời, đúng quy định các chính sách mới về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo các quyết định của UBND tỉnh đã ban hành. Tiếp tục thực hiện cơ chế đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm cho người dân thuộc diện Nhà nước thu hồi đất để triển khai các dự án; đề xuất triển khai các ngành nghề lao động phù hợp với tuổi đời, tập quán sinh sống của người dân ở từng địa phương.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo gắn với việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn xóa đói giảm nghèo, chống tái nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn cho người nghèo, nhất là phụ nữ về kiến thức và kỹ năng sản xuất. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở cơ sở; tăng cường trang bị kiến thức pháp luật cho người nghèo; huy động sự tham gia của các tổ chức đoàn thể trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và chống tái nghèo.

Thực hiện các giải pháp chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho đối tượng công nhân lao động trong các khu công nghiệp. Có chính sách bảo đảm dịch vụ y tế và giáo dục cho trẻ em nhập cư. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân lao động, người có thu nhập thấp. Tiếp tục đẩy mạnh việc thành lập các chi hội thanh niên nhà trọ, các khu nhà trọ công nhân lao động không có ma tuý và các tệ nạn xã hội khác nhằm xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho công nhân lao động. Chủ động giải quyết các tranh chấp lao động giữa người lao động và chủ doanh nghiệp; xử lý kịp thời, đúng pháp luật các vụ đình công.

Thực hiện tốt công tác chăm lo cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng và các gia đình thương binh, liệt sĩ. Tiếp tục phát động sâu rộng phong trào Đền ơn đáp nghĩa thông qua vận động các tổ chức, cá nhân trực tiếp hỗ trợ, đỡ đầu, chăm lo, nâng cao đời sống cho các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng và đóng góp xây dựng quỹ Đền ơn đáp nghĩa của huyện. Tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào vận động “xây dựng xã, phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội”, các xã “làm tốt công tác chính sách thương binh - liệt sĩ”.

5. Tăng cường công tác an ninh - quốc phòng và hoạt động pháp luật

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX) “về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết 08-NQ/TW khóa VIII của Bộ Chính trị về nhiệm vụ bảo vệ ANQG trong tình hình mới, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về “tăng cường công tác đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới” và Kết luận số 38-KL/TW của Bộ Chính trị về nhiệm vụ bảo vệ ANQG trong tình hình mới. Tăng cường chỉ đạo công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh nông thôn, an ninh thông tin và an ninh khu công nghiệp. Chủ động nắm bắt, dự báo tình hình, có phương án, biện pháp bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu trọng điểm, các công trình quan trọng về an ninh quốc gia. Phòng ngừa và đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo, các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, lợi dụng các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại của Nhà nước để xâm phạm an ninh quốc gia.

Xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm hình sự, kinh tế, ma tuý, và tệ nạn xã hội; có phương án bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Tiếp tục triển khai hiệu quả công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội, công tác phòng chống cháy nổ. Nâng cao hiệu quả công tác phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, nhất là ở các địa bàn tập trung đông lực lượng lao động tạm trú, xung quanh khu công nghiệp, địa bàn phức tạp về an ninh trật tự. Chỉ đạo xây dựng toàn diện công an cấp huyện, đào tạo, chuẩn hoá lực lượng công an các xã theo tinh thần Nghị quyết số 40-NQ/TW của Bộ Chính trị và Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công an xã.

Chú trọng chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên địa bàn trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X). Tiếp tục củng cố vững chắc thế trận an ninh nhân dân gắn liền với thế trận quốc phòng toàn dân. Nâng cao chất lượng xây dựng và huấn luyện trong lực lượng vũ trang của huyện ngày càng vững mạnh toàn diện theo hướng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Củng cố và chuẩn hóa đội ngũ dân quân tự vệ và dự bị động viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng đạt chỉ tiêu được giao. Phối hợp chặt chẽ các ban ngành liên quan thực hiện tốt công tác giáo dục quốc phòng toàn dân; tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ các ngành, các cấp. Hoàn thành công tác tuyển quân hàng năm đạt chỉ tiêu về số lượng, chất lượng ở cả hai cấp huyện, xã.

Tiếp tục chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp. Chú trọng kiện toàn, nâng cao chất lượng của các cơ quan tư pháp và đảm bảo đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp có đủ trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức. Đảm bảo thực hiện tốt quy chế phối hợp liên ngành tư pháp; tập trung nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, không để xảy ra tình trạng án oan sai, án tồn đọng kéo dài.

Tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền, các đoàn thể trong việc thực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan tư pháp với Mặt trận Tổ quốc trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết về pháp luật cho cán bộ, công chức và nhân dân. Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ tư pháp, ban thanh tra nhân dân, tổ hòa giải ở cơ sở. Chú trọng vai trò phối hợp giữa Phòng Tư pháp và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện trong việc tổ chức kiểm tra, hướng dẫn các xã trong việc củng cố, kiện toàn các tổ hòa giải.

Thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Tăng cường vai trò giám sát của ủy ban kiểm tra Đảng các cấp, các ban của HĐND, MTTQ, các đoàn thể nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp, của thủ trưởng cơ quan, chủ tịch UBND các xã trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

6. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động, hiệu lực quản lý Nhà nước

Tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước ở các ngành, các cấp theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu quả, phù hợp với tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII) và những quy định mới được Nhà nước điều chỉnh bổ sung, hướng tới xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; trong đó tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đảm bảo đủ về số lượng, có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thực hiện nghiêm bộ thủ tục hành chính đã được ban hành và thường xuyên cập nhật bổ sung phù hợp với yêu cầu. Nâng cao hiệu quả cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại các cơ quan hành chính Nhà nước. Tiếp tục quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc cũng như kiện toàn về tổ chức, bộ máy cán bộ, công chức của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”. Thường xuyên thực hiện việc rà soát và hệ thống hoá các văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND các cấp ban hành theo thẩm quyền nhằm đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.

Tăng cường thực hiện thanh tra công vụ, kiểm tra cải cách hành chính ở các cấp, các ngành với trọng tâm là việc thực hiện chức trách công vụ, giải quyết thủ tục hành chính, thái độ ứng xử của cán bộ công chức đối với nhân dân. Tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg ngày 31/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc bảo đảm thời gian giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và quán triệt ý thức tôn trọng, phục vụ nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) và các chương trình hành động của Tỉnh ủy và Huyện ủy. Tăng cường chỉ đạo các ngành, các cấp, các đơn vị thực hiện triệt để Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất, trong chi tiêu ngân sách và sử dụng tài sản công.

Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa UBND và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể. Tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt Nghị định 89/CP của Chính phủ về công tác tiếp dân nhằm giải quyết kịp thời những bức xúc và các đơn thư tố cáo, khiếu nại của công dân, không để xảy ra “điểm nóng” khiếu nại đông người, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.

Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND cấp huyện, xã. Tăng cường hiệu quả và chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của HĐND các cấp đối với việc thực hiện các nghị quyết của HĐND trên các lĩnh vực phát triển KTXH-ANQP. Tổ chức tốt công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016.

Thực hiện tốt công tác tiếp dân và đôn đốc kiểm tra việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, đảm bảo theo đúng luật định. Tiếp tục phối hợp tổ chức có hiệu quả hoạt động đối thoại về những vấn đề bức xúc trong nhân dân.

7. Phát huy vai trò công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy mạnh phát triển của địa phương

Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức hội quần chúng. Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ làm công tác vận động quần chúng từ huyện đến cơ sở, đảm bảo trình độ, năng lực để hoạt động ngang tầm với nhiệm vụ. Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ tập hợp quần chúng vào các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức quần chúng đạt 87%, riêng Đoàn thanh niên là 50% và Hội liên hiệp thanh niên là 65%; xây dựng lực lượng nòng cốt 45%; đoàn viên, hội viên sinh hoạt thường xuyên đạt 80%; hàng năm, từng đoàn thể có 85% cơ sở đạt vững mạnh, không có cơ sở yếu kém.

Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp theo hướng đổi mới và đa dạng hóa nội dung, phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, địa bàn dân cư, sâu sát và nắm bắt sát tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền và vận động phù hợp với từng đối tượng quần chúng nhân dân. Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, triển khai quán triệt kịp thời các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đến thành viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác vận động quần chúng theo tinh thần Nghị quyết 8B/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IV) và Nghị quyết Trung ương 7 phần 2 (khóa IX) về “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và công tác dân tộc, công tác tôn giáo”. Quan tâm giải quyết những lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân nhằm tạo động lực thúc đẩy các phong trào quần chúng. Xây dựng và phát huy mối đoàn kết các giai cấp, các thành phần kinh tế, đoàn kết các tôn giáo, mọi tầng lớp, cá nhân yêu nước trên địa bàn và kiều bào ở nước ngoài nhằm tăng cường, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân phục vụ cho công cuộc đổi mới của đất nước, của địa phương.

Đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng nhân dân, không ngừng củng cố, kiện toàn, mở rộng tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, phấn đấu đạt chỉ tiêu về tỷ lệ tập hợp quần chúng vào tổ chức và tỷ lệ cơ sở hội trong sạch, vững mạnh. Phát huy vai trò của các cá nhân tiêu biểu trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên trong các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp khối ngoài quốc doanh.

Tăng cường vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đối với các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư và Thông tri 09-TT/TU của Tỉnh ủy về ”tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, gắn với thực hiện Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH và các quy chế thực hiện dân chủ cơ sở trong hoạt động của cơ quan hành chính sự nghiệp và ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Tiếp tục nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư”, xây dựng ấp văn hóa, tổ văn hóa, gia đình văn hóa, xã văn hóa và các cuộc vận động của MTTQ và các đoàn thể nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống mọi mặt của nhân dân.

Quan tâm chăm lo lợi ích cho thành viên, hội viên, đoàn viên. Chú trọng xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng đoàn viên, hội viên nòng cốt trong các đoàn thể chính trị ở cơ sở. Tích cực, chủ động đề xuất, phát động và nhân rộng các phong trào, hành động cách mạng của quần chúng nhân dân. Phát động sâu rộng, có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước nhằm động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia, thực hiện đạt kết quả cao kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của địa phương.

8. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Khai thác tốt các kênh thông tin tuyên truyền để phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ; đồng thời, nâng cao chất lượng hoạt động thông tin, tuyên truyền, khắc phục tình trạng hình thức, thiếu chiều sâu về nội dung. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, có hiệu quả.

Tăng cường chỉ đạo hệ thống tuyên giáo, tuyên huấn cơ sở chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể chính trị và địa phương thực hiện tốt công tác nắm bắt dư luận xã hội, tham mưu các cấp ủy Đảng và chính quyền có giải pháp phù hợp, kịp thời xử lý những vấn đề phức tạp nảy sinh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Thường xuyên quán triệt trong đội ngũ đảng viên, cán bộ và nhân dân nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch bên ngoài, các phần tử cơ hội chính trị trong nước chống phá, gây mất ổn định chính trị bằng việc lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, gây mất đoàn kết nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Quan tâm nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng triển khai ngay từ đầu nhiệm kỳ việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, bổ túc văn hóa cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là ở cấp cơ sở; gắn công tác đào tạo đi đôi với công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ nhằm thực hiện đạt mục tiêu đến năm 2015 đội ngũ cán bộ, công chức của huyện đạt chuẩn theo quy định và chuẩn bị được nguồn cán bộ cho các nhiệm kỳ tiếp theo. Triển khai đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện. Tiếp tục quan tâm củng cố đội ngũ báo cáo viên và tuyên truyền viên cấp cơ sở.

Tiếp tục tổ chức thực hiện các kế hoạch của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện thực hiện các nghị quyết của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước; công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; công tác tư tưởng, lý luận và báo chí. Tiếp tục kiện toàn bộ máy các cơ quan trong hệ thống chính trị theo Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII) và Nghị quyết 36-NQ/TW về công tác quy hoạch cán bộ theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX) và Chương trình hành động của Đảng bộ huyện (khóa II) về công tác tổ chức và cán bộ. Đổi mới công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị từ huyện đến xã đảm bảo tính kế thừa, phát triển. Chú trọng lựa chọn, bổ sung nguồn cán bộ để đưa vào quy hoạch lâu dài là những người ưu tú trong công nhân trẻ, công chức trẻ, trong học sinh, sinh viên giỏi. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện Quyết định số 140-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và có giải pháp cụ thể để thực hiện hiệu quả chính sách thu hút cán bộ có trình độ về công tác tại địa phương, nhất là ở cơ sở.

Nâng cao năng lực hoạt động của Tổ công tác 07 của huyện trong việc thực hiện phát triển đảng và xây dựng tổ chức Đảng, công đoàn, Đoàn Thanh niên trong các doanh nghiệp khối ngoài quốc doanh; thường xuyên củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng, công đoàn, Đoàn Thanh niên đã thành lập trong các doanh nghiệp.

Chú trọng công tác tạo nguồn, nâng cao chất lượng đội ngũ trung kiên; thực hiện tốt công tác phát triển Đảng, nhất là đối tượng thanh niên trẻ, có trình độ, đối tượng vùng đồng bào có đạo, là giáo viên, công nhân lao động và lực lượng dân quân tự vệ. Thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ, tiếp tục rà soát chất lượng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên từ huyện đến cơ sở.

Tiếp tục thực hiện tốt, có hiệu quả Nghị quyết 22- NQ/TW của BCH Trung ương Đảng (khóa X) và Kế hoạch số 44-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa VIII) về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng của đội ngũ đảng viên, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Đẩy mạnh công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng gắn với việc thực hiện nghiêm Quy định số 115-QĐ/TW của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm. Chú trọng kiểm tra việc thực hiện Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về “Đảng viên đang công tác ở các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp phải thường xuyên giữ mối liên hệ với Đảng ủy, chi ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú”.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng qui định; chú trọng công tác giám sát đối với tổ chức Đảng cấp dưới về việc thực hiện nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, giám sát cấp ủy viên cùng cấp và cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý. Thực hiện đảm bảo công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Thường xuyên củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra.

Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giải quyết đơn thư tố cáo cán bộ, đảng viên và giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng theo đúng nguyên tắc và thời gian quy định. Thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng theo tinh thần Quy định số 23-QĐ/TW và Quyết định số 25-QĐ/TW của Bộ Chính trị.

 

 

 

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ HUYỆN

 

 

                                                              -------------------------------

 

 

* Ghi chú:

[1] Tốc độ tăng GDP năm 2006 là 16,9%, năm 2007 là 17,28%, năm 2008 là 17,86%, năm 2009 là 12,5%, năm 2010 dự kiến là 16,23%.


[2] Tổng vốn đầu tư giai đoạn 5 năm 2001-2005 đạt 5.427 tỷ đồng; giai đoạn 5 năm 2005 - 2010 đạt 26.376 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư trong nước là 8.971 tỷ đồng (chỉ tiêu NQ - 5.371 tỷ đồng).


[3] Trong 328 dự án có 201 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 4,65 tỷ USD và 127 dự án vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư 1,785 tỷ USD. So với dự án có vốn đầu tư nước ngoài, dự án có vốn đầu tư trong nước chiếm 38,7% tổng số dự án và 27,6% trong cơ cấu vốn.


[4] Hạ tầng khu trung tâm huyện 71 ha, đường số 1, đường D9, đường từ ĐT319 đến HL 19, đường vào xã Phước Khánh, mở rộng HL19, Trung tâm VHTT huyện, trạm y tế các xã… (Xem phụ lục chi tiết).


[5] Qui hoạch chi tiết khu di tích Bia tưởng niệm- công viên Giồng Sắn, Làng đại học…


[6] Dự án nhà ở xã hội (xã Long Thọ) do Ban QLDA dân dụng - công nghiệp Đồng Nai làm chủ đầu tư; dự án xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp do HTX Nhơn Long làm chủ đầu tư và khu nhà ở cho công nhân trong KDC đô thị Long Thọ - Phước An do Liên đoàn Lao động tỉnh làm chủ đầu tư.


[7] Trên địa bàn hiện có 02 chung cư, 08 nhà nghỉ, 1.173 hộ kinh doanh nhà trọ với trên 12.000 phòng đang hoạt động.


[8] Do Công ty cổ phần dầu khí khai thác cảng Phước An làm chủ đầu tư.


[9] Do Công ty cổ phần bến xe và dịch vụ vận tải Đồng Nai làm chủ đầu tư.


[10] Các khoản thu tiền sử dụng đất, phí sử dụng hạ tầng, đất công trên tổng thu ngân sách từng năm cụ thể là: năm 2005: 107/155 tỷ đồng; 2006: 135/182 tỷ đồng; 2007: 635/737 tỷ đồng; 2008: 98/236 tỷ đồng; 2009: 277/365 tỷ đồng


[10] Năng suất bình quân cây lúa tăng từ 3,6 tấn lên 3,95 tấn/ha, mía từ 75 tấn lên 80 tấn/ha, rau từ 8,5 tấn lên 8,8 tấn/ha.


[11] Theo chuẩn nghèo quy định tại Nghị quyết số 52/NQ-HĐND tỉnh.


[12] Trong tổng số 76 dự án được triển khai với tổng diện tích 5.844,2ha, có 32 dự án công cộng với diện tích 187,94ha gồm 5 dự án khu tái định cư (34,64ha), 18 dự án đường giao thông (139,6ha), 9 dự án trường học (13,7ha).


[13] Ngoài hình thức tuyên truyền miệng truyền thống, các cấp ủy Đảng còn tổ chức nhiều hinh thức giáo dục chính trị, tư tưởng như về nguồn, xây dựng đĩa CD, thông tin lưu động đến tận xóm, ấp, xây dựng tờ tin hành tháng, quý; tuyên truyền thông qua xây dựng tiểu phẩm ở các trường, thông qua sinh hoạt dưới cờ, các hội thi;…


[14] Số liệu được tính đến thời điểm 30/6/2010.


[15] Theo các tiêu chí quy định tại Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới được ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính Phủ.
                            -----------------------------------------------------------

PHÁT BIỂU

CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN ĐÌNH THÀNH

UV.BCH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG - BÍ THƯ TỈNH ỦY

tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nhơn Trạch

lần thứ IV, nhiệm kỳ 2010 - 2015

Ngày 15/7/2010

aÛb

 

Kính thưa:  Đoàn Chủ tịch

Thưa quý mẹ Việt Nam anh hùng

Thưa: Các đồng chí khách quý và toàn thể đại biểu dự Đại hội.

Hôm nay, Đảng bộ huyện Nhơn Trạch là Đảng bộ cấp huyện đầu tiên của Đảng bộ trong tỉnh long trọng tổ chức Đại hội hết nhiệm kỳ, trong không khí toàn Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh sôi nổi thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, phấn đấu hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ năm 2010, năm cuối cùng thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII.

Thay mặt Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, tôi nhiệt liệt chào mừng và chúc các đồng chí đại biểu, các vị khách quý sức khoẻ, hạnh phúc, thành đạt. Chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

Kính thưa các đại biểu dự Đại hội,

Thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 04/8/2009 của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 129-KH/TU ngày 07/10/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Đảng bộ huyện Nhơn Trạch đã tập trung chỉ đạo thành công đại hội các tổ chức cơ sở đảng trong toàn Đảng bộ. Song song với công tác chỉ đạo đại hội cấp cơ sở, Đảng bộ huyện đã tập trung xây dựng báo cáo chính trị, chuẩn bị công tác nhân sự cấp ủy đảm bảo đúng quy trình, quy định theo hướng dẫn của Trung ương, của Tỉnh ủy. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo, đóng góp của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các sở, ban, ngành của tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nhơn Trạch đã bổ sung, hoàn chỉnh báo cáo chính trị; bản kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khoá III) trình Đại hội. Tại Đại hội này, các đại biểu sẽ tiếp tục thảo luận đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XI của Đảng và báo cáo chính trị trình Đại hội IX của Đảng bộ tỉnh; tiến hành kiểm điểm, phân tích, đánh giá kết quả lãnh đạo, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2005 - 2010; xác định rõ, cụ thể mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ tiếp theo; tiến hành bầu Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX. Đó là 4 nội dung cơ bản, chủ yếu mà các đại biểu cần tập trung trí tuệ, phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm của đại biểu, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ Đại hội đề ra.

Thưa các đồng chí,

Thưa toàn thể đại biểu dự đại hội,

Nhiệm kỳ vừa qua, tình hình trong nước và thế giới diễn biến khó lường, thời cơ và thách thức đan xen; ảnh hưởng tiêu cực của suy giảm kinh tế thế giới năm 2009 đã tác động đến phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân. 5 năm qua, nhận thức rõ tình hình, quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, những giải pháp cấp bách của Chính phủ, của tỉnh, Đảng bộ huyện Nhơn Trạch đã nỗ lực, ra sức phấn đấu, lãnh đạo hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ III đã đề ra, nổi bật là :

- Kinh tế trên địa bàn huyện tiếp tục tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng (GDP) bình quân hàng năm đạt 16,15%/năm, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân chung của tỉnh. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch nhanh, đúng định hướng. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng khá nhanh, 5 năm tăng 4,86 lần so với giai đoạn 2001 - 2005. Công nghiệp tiếp tục tăng trưởng cao, bình quân hàng năm tăng 21,57%. Hoạt động thương mại - dịch vụ chuyển biến tích cực, tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hóa dịch vụ tăng bình quân 34,23%/năm. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị; giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản tăng bình quân hàng năm 5,42%. Triển khai khá hiệu quả các đề án quy hoạch tiểu vùng sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng nông thôn mới; dịch vụ nông nghiệp và ngành nghề nông thôn tiếp tục phát triển đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân trên địa bàn.

- Đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận nhân dân được nâng lên; các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, giải quyết việc làm được quan tâm thực hiện; trong 5 năm qua, đã giải quyết việc làm cho trên 26.000 lao động, vượt chỉ tiêu nghị quyết; tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 32% năm 2005 tăng lên 42% năm 2010. Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 2,8%, thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh.

- An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, Giải quyết có hiệu quả các vấn đề phức tạp về an ninh nông thôn, an ninh kinh tế, an ninh chính trị, an ninh tư tưởng, văn hóa, các hoạt động lợi dụng tôn giáo, tranh chấp lao động trong các doanh nghiệp.

- Công tác vận động quần chúng có bước chuyển biến tốt; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước nâng lên về chất, đa dạng về nội dung, phương thức hoạt động hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư. Mở rộng các hình thức tập hợp quần chúng vào tổ chức, đẩy mạnh các phong trào, động viên tối đa nguồn lực trong dân để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.

- Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả tích cực; chú trọng củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng; công tác phát triển đảng viên mới đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra, đặc biệt là công tác xây dựng đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt được kết quả tiến bộ. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được chú trọng, góp phần hạn chế vi phạm của đảng viên, tổ chức đảng. Phương thức lãnh đạo tiếp tục được đổi mới, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ trên tất cả các lĩnh vực.

Thay mặt Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, tôi nhiệt liệt biểu dương, đánh giá cao những thành tích mà Đảng bộ và nhân dân huyện Nhơn Trạch đã nỗ lực phấn đấu và đạt được trong 5 năm qua.

Kính thưa Đoàn Chủ tịch, thưa đại biểu Đại hội,

Bên cạnh những thành tích đạt được trên, vẫn còn một số mặt tồn tại, hạn chế cần khắc phục, đó là:

- Kinh tế phát triển nhanh, nhưng chưa thật bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của một địa bàn trọng điểm; công nghiệp phát triển nhưng phần lớn là những ngành công nghiệp có giá trị gia tăng thấp, sử dụng nhiều lao động giản đơn; công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch, quản lý đô thị còn nhiều bất cập; kết cấu hạ tầng chưa được đầu tư đồng bộ; tình trạng ô nhiễm môi trường chưa được giải quyết một cách căn bản, công tác quản lý tài nguyên, quản lý đất đai đạt hiệu quả chưa cao.

- Nguồn nhân lực ở địa phương chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Việc chuyển đổi nghề nghiệp, giải quyết việc làm cho người dân từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, đời sống một bộ nhân dân bị thu hồi đất còn gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp, tình trạng học sinh bỏ học bậc trung học phổ thông đáng quan tâm.

- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố chưa ổn định; tình trạng đình công, lãn công của công nhân ngày càng diễn biến phức tạp. Hoạt động một số đoàn thể, nhất là ở cấp cơ sở chưa đi vào chiều sâu, hiệu quả chưa cao.

- Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút cán bộ trẻ có trình độ cao tuy có quan tâm, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, hẫng hụt về cán bộ kế cận, nhất là cán bộ cơ sở; trình độ và năng lực của cán bộ ở một số lĩnh vực quản lý nhà nước chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, chưa đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra.

Những hạn chế, thiếu sót trên, đề nghị các đại biểu trong Đại hội nghiêm túc đánh giá, phân tích rõ nguyên nhân nhất là xác định đúng những biện pháp khắc phục trong nhiệm kỳ tới.

Kính thưa Đoàn chủ tịch, thưa các đồng chí đại biểu,

Nhiệm vụ giai đoạn 2010-2015 của Đảng bộ tỉnh nói chung và của Đảng bộ huyện Nhơn Trạch nói riêng là rất nặng nề. Nhơn Trạch có lợi thế  so sánh mà rất ít địa phương trong tỉnh có được, đó là: hệ thống cảng nước sâu, hệ thống giao thông trọng điểm kết nối với thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; trong tương lai, cảng hàng không quốc tế Long Thành, trung tâm đô thị mới Nhơn Trạch, các trung tâm thương mại, các khu đô thị, khu dân cư khi hình thành sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Với những yếu tố thuận lợi trên, nếu tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt, bằng cách làm sáng tạo sẽ tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng Nhơn Trạch trở thành thành phố văn minh, hiện đại. Tại Đại hội này, các đồng chí cần tập trung thảo luận sâu và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng Nhơn Trạch trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ, du lịch, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ của tỉnh, của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Với những đặc điểm, ưu thế trên đây là tiềm năng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Vấn đề quan trọng là Đảng bộ huyện Nhơn Trạch tiếp tục phát huy tốt lợi thế so sánh, tập trung mọi nguồn lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đặt ra trong thời gian tới, tôi xin lưu ý Đảng bộ 02 yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất: Để xây dựng Nhơn Trạch trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ của tỉnh, trước hết phải tập trung nâng cao, chuyển biến chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn, quản lý đô thị. Thực hiện tốt quy hoạch và đào tạo cán bộ, đi đôi với thu hút cán bộ theo Quyết định 140-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có trình độ, năng lực, phẩm chất, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ và đủ sức giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Đảng bộ huyện cần tạo bước đột phá trong công tác cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý để thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng Nhơn Trạch trở thành thành phố văn minh, hiện đại.

Thứ hai: Nhơn Trạch sẽ là mẫu hình về thành phố trong tương lai; do đó phải chú trọng nâng cao trình độ về quy hoạch và quản lý quy hoạch; xây dựng thành phố Nhơn Trạch đạt tiêu chuẩn xanh, sạch, văn minh, hiện đại. Vì vậy, ngay từ bây giờ và những năm tới phải coi trọng, tăng cường quản lý theo quy hoạch, thực hiện theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt. Thực hiện tốt việc công khai các quy hoạch đã được phê duyệt bằng nhiều hình thức thích hợp để các tổ  chức và nhân dân biết, nghiêm chỉnh thực hiện. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tránh tình trạng sử dụng đất lãng phí, không đúng mục đích, không đúng quy hoạch. Xử lý nghiêm tình trạng sang nhượng, mua bán trái pháp luật, nhất là trong cán bộ, đảng viên.

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ trong nhiệm kỳ tới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị các đại biểu tập trung vào 08 nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Một là: Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Tập trung đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư từ các thành phần kinh tế, chú trọng thu hút các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp phụ trợ, các ngành có gia trị gia tăng cao. Hạn chế phát triển các ngành công nghiệp gia công sử dụng nhiều lao động; không tiếp nhận những dự án tác động xấu đến môi trường. Chú trọng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề truyền thống, sử dụng lao động tại chỗ. Phát triển công nghiệp gắn với phát triển đô thị và bảo vệ môi trường.

- Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị; phát triển các sản phẩm nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao (rau sạch, sinh vật cảnh, hoa tươi...) để đáp ứng nhu cầu thị trường dân cư đô thị và các khu công nghiệp; khuyến khích liên kết doanh nghiệp với nông dân trong đầu tư và tiêu thụ sản phẩm. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp. Triển khai hiệu quả chương trình nông thôn mới, xây dựng mô hình nông thôn theo hướng bền vững, có đời sống kinh tế được cải thiện, có đời sống văn hoá tốt, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, có môi trường sinh thái tốt.

- Chú trọng phát triển các dịch vụ có thế mạnh: dịch vụ kho cảng, tài chính, ngân hàng, tư vấn, viễn thông, du lịch, dịch vụ phục vụ các khu công nghiệp và công nhân ... Quy hoạch, phát triển hệ thống thương mại - dịch vụ, nhất là mạng lưới chợ, trung tâm thương mại, siêu thị gắn với các khu dân cư. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển các dịch vụ chất lượng cao, dịch vụ phục vụ các khu công nghiệp, phát triển các khu du lịch sinh thái, khu du lịch gắn với các di tích văn hoá lịch sử. 

Hai là: Huy động mọi nguồn lực đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội để phát triển kinh tế và nâng cao, cải thiện đời sống nhân dân. Hệ thống hạ tầng của huyện phải gắn kết chặt chẽ với hệ thống hạ tầng các địa phương trong vùng (cầu đường Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh - Nhơn Trạch, Cảng hàng không Quốc tế Long Thành, các trung tâm thương mại vùng..); đẩy mạnh việc thu hút đầu tư khu Trung tâm thành phố mới Nhơn Trạch; thực hiện tốt chương trình nhà ở cho người thu nhập thấp, nhà ở công nhân. Tăng cường hợp tác với các địa phương trong và ngoài tỉnh, nhất là các địa phương vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, các tập đoàn mạnh để đầu tư phát triển nhanh thành phố Nhơn Trạch.

Ba là: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường trên địa bàn. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ tài nguyên và môi trường. Tổ chức tốt việc thu gom và xử lý đúng tiêu chuẩn quy định các loại rác thải, chất thải. Đầu tư đồng bộ hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống xử lý nước thải các khu công nghiệp, khu dân cư tập trung. Tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện và có biện pháp xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về môi trường. Quy hoạch và phát triển hệ thống cây xanh đô thị, đảm bảo mật độ cây xanh cao hơn quy định chung của tỉnh.

Bốn là: Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng đội ngũ lao động có tay nghề cao phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Quan tâm giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất. Chủ động quy hoạch, xây dựng một số cơ sở dạy nghề với ngành nghề phù hợp đáp ứng yêu cầu chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Tập trung đúng mức công tác giảm nghèo. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, y tế, đào tạo nghề, tích cực vận động, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư tham gia đầu tư các thiết chế văn hóa để nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân các khu công nghiệp.

Năm là: Tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, trọng tâm cải cách thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục hành chính có liên quan đến các dự án đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo của công dân; phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương pháp luật của nhà nước. Tăng cường công tác thanh tra công vụ và nâng cao trách nhiệm người thi hành công vụ, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan quản lý Nhà nước. Xây dựng quy chế phối hợp trong quản lý giữa huyện với các sở, ngành của tỉnh và các địa phương khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ.

Sáu là: Tăng cường công tác bảo vệ an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh nông thôn-đô thị, an ninh thông tin, an ninh các khu công nghiệp. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ đình công, lãng công; củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Bảy là: Tiếp tục lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; kịp thời nắm bắt tâm tư và nguyện vọng của nhân dân, nhất là nguyện vọng của người dân bị thu hồi đất để kịp thời đề xuất các biện pháp, tạo điều kiện ổn định nâng cao đời sống người dân. Nâng cao chất lượng hoạt động các đoàn thể các doanh nghiệp ngoài quốc doanh,    các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có bản lĩnh và khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và xây dựng đội ngũ cán bộ. 

Tám là: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đại hội Đảng bộ huyện trong 5 năm tới. Khẩn trương xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ diện quy hoạch để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng từ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đến các cấp ủy cơ sở và đảng viên. Xây dựng đội ngũ đảng viên và từng đồng chí cấp ủy viên từ huyện đến cơ sở thực sự là tấm gương tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, gương mẫu trong lối sống, chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước trước quần chúng nhân dân và cấp dưới. Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên mới, chú trọng kết nạp đảng viên trẻ, có trình độ, kiến thức, đoàn viên thanh niên, công nhân lao động và bộ đội xuất ngũ. Rà soát hoàn chỉnh quy hoạch cán bộ, đảm bảo có sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, tránh tình trạng hẫng hụt cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên; đề cao nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Đẩy mạnh các biện pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí có hiệu quả. Coi trọng củng cố nâng cao chất lượng hoạt động và sinh hoạt của các chi bộ trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để chăm lo, giáo dục công nhân trên địa bàn huyện, khẳng định được vai trò lãnh đạo tổ chức Đảng.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đề nghị các đại biểu trong Đại hội tập trung trí tuệ, phát huy tinh thần trách nhiệm trước Đảng bộ và nhân dân huyện nhà, đóng góp nhiều ý kiến thiết thực vào dự thảo báo cáo chính trị, đề ra được Nghị quyết với những mục tiêu, nhiệm vụ mang tính đột phá, khả thi, để xây dựng Nhơn Trạch sẽ sớm trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ,  giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của tỉnh, của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Thưa các đồng chí, thưa toàn thể Đại hội.

Một nhiệm vụ rất quan trọng của Đại hội là bầu Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ tới đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đại hội. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị các đại biểu dự đại hội phải xuất phát từ yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng bộ huyện trong nhiệm kỳ tới, đó là xây dựng Nhơn Trạch trở thành trung tâm  công nghiệp - dịch vụ, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của tỉnh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, để từ đó xác định cụ thể số lượng, cơ cầu ban chấp hành Đảng bộ huyện, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện hiệu quả của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện trên tất cả các lĩnh vực;     nhất là những lĩnh vực đột phá, trọng yếu, những địa bàn trung tâm, trọng điểm của huyện.

Về đoàn đại biểu đi dự Đại hội lần thứ IX Đảng bộ tỉnh, đề nghị đại hội lựa chọn những đồng chí thực sự tiêu biểu, đại diện cho Đảng bộ huyện dự Đại hội tỉnh là những đồng chí có khả năng đóng góp tích cực vào sự thành công Đại hội lần thứ IX Đảng bộ tỉnh; đồng thời có năng lực triển khai nội dung Đại hội Đảng bộ tỉnh ở cấp mình, ngành mình, để sớm đưa nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đi vào cuộc sống.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị các đại biểu Đại hội đề cao trách nhiệm, lựa chọn những đồng chí thật sự tiêu biểu về năng lực, trình độ, phẩm chất để bầu vào ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ tới, cùng Đảng bộ lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội; bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội cấp trên gồm các đồng chí có phẩm chất, có năng lực để đóng góp thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tin tưởng toàn thể Đảng bộ, quân và dân huyện Nhơn Trạch sẽ phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết đề ra. Chúc sức khỏe các đại biểu. Chúc Đại hội thành công.

Kính thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội.

Nhân dịp Đại hội lần thứ IV Đảng bộ huyện Nhơn Trạch, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trân trọng trao tặng Đại hội bức trướng với nội dung:

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VỮNG MẠNH;

ĐOÀN KẾT TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN; TẬP TRUNG

MỌI NGUỒN LỰC, ĐẨY NHANH PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ

NHƠN TRẠCH GIÀU MẠNH, VĂN MINH, HIỆN ĐẠI.

Đồng thời, ghi nhận sự nỗ lực phấn đấu và đóng góp quan trọng của Đảng bộ huyện Nhơn Trạch trong nhiệm kỳ vừa qua, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh quyết định tặng cờ cho Đảng bộ huyện Nhơn Trạch, nội dung “Đảng bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nhiệm kỳ 2005 - 2010”.

Xin mời đại diện Đoàn Chủ tịch lên nhận bức trướng và cờ của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

                                     ----------------------------------------------------------------
     ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI                                               ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

     HUYỆN ỦY NHƠN TRẠCH                                      Nhơn Trạch, ngày 28 tháng 7 năm 2010

                           *

                Số  01 -NQ/HU

 

 

 

NGHỊ QUYẾT

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nhơn Trạch lần thứ IV,

nhiệm kỳ 2010 - 2015

______

 

 

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nhơn Trạch lần thứ IV, nhiệm kỳ 2010 - 2015 diễn ra từ ngày 15/7/2010 đến ngày 16/7/2010 tại Hội trường Huyện uỷ Nhơn Trạch.

Đại hội có mặt 179 đại biểu trên tổng số 179 đại biểu được triệu tập; Đại  hội đã làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, tập trung trí tuệ, dân chủ và đi đến thống nhất.

QUYẾT NGHỊ

1. Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III, nhiệm kỳ 2005 – 2010 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2010 – 2015 được nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội:

1.1. Đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ 5 năm 2005 – 2010.

Đại hội khẳng định:

- Trong nhiệm kỳ vừa qua, Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị theo đúng định hướng và mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng. Các nguồn vốn đầu tư tiếp tục tăng cao, nhất là nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Các công trình hạ tầng kỹ thuật được đầu tư, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Văn hóa - xã hội có sự tiến bộ trên nhiều mặt. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên so với trước; công tác giảm nghèo đạt những kết quả tích cực. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững, ổn định. Công tác vận động quần chúng và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể đạt kết quả tích cực. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được mở rộng, góp phần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng trên cả 3 mặt tư tưởng chính trị, tổ chức và kiểm tra.

- Bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn những mặt hạn chế nhất định, đó là: Kinh tế tuy có bước phát triển nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Các vấn đề xã hội mang tính bức xúc chậm được giải quyết. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có lúc, có nơi còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Công tác điều hành, quản lý của nhà nước còn bất cập trên một số lĩnh vực. Công tác vận động quần chúng chưa thật sự phát huy hết nguồn lực các tầng lớp nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Hiện tượng cán bộ, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng vẫn còn xảy ra.

- Những tồn tại, hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là:

Một số cấp ủy cơ sở chưa thật sự năng động, nhạy bén; phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc có mặt chậm đổi mới. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chấp hành Điều lệ Đảng ở một số tổ chức cơ sở Đảng chưa thực sự được quan tâm.

Công tác cán bộ xét về tổng thể vẫn chưa đạt so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, vẫn còn hụt hẫng về đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị. Công tác quy hoạch gắn với đào tạo cán bộ còn hạn chế và thiếu định hướng lâu dài, căn cơ.

Trong công tác xây dựng Đảng, công tác đấu tranh thực hiện tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức cơ sở Đảng vẫn còn biểu hiện hình thức. Vẫn còn trường hợp đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm các quy định của Điều lệ Đảng bị xử lý kỷ luật.

- Trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết Đảng bộ huyện lần thứ III; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện rút ra những bài học kinh nghiệm như sau:

Thứ nhất, nắm vững các chủ trương, quan điểm, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; chủ động, sáng tạo trong vận dụng các nghị quyết của Đảng vào tình hình thực tiễn và điều kiện của địa phương. Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nhằm kịp thời chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của các tổ chức cơ sở Đảng.

Thứ hai, quan tâm công tác chính trị tư tưởng và công tác dân vận, triển khai thực hiện kịp thời, nghiêm túc chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng.  Chú trọng phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất của hệ thống chính trị trong tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ theo nghị quyết của Đảng.

Thứ ba, phát triển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.

1.2. Về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp 5 năm 2010 – 2015.

Đại hội nhất trí:

a. Mục tiêu tổng quát.

Tập trung huy động các nguồn lực trong và ngoài địa bàn, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của huyện để phát triển kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao đi đôi với quan tâm giải quyết tốt các vấn đề xã hội; bảo đảm ổn định an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ huyện trong giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh phát triển thành phố Nhơn Trạch đến năm 2020 đạt tiêu chí đô thị loại II và trở thành một trong các trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ, du lịch, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ của tỉnh, của vùng trọng điểm kinh tế phía Nam.

b. Các chỉ tiêu chủ yếu.

- Giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên địa bàn tăng bình quân 17%/năm. Trong đó: công nghiệp - xây dựng tăng 18- 19%; dịch vụ tăng 21-  22%; nông – lâm - ngư nghiệp tăng 2,5 - 3%.

- Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng bình quân từ 21 - 22%/năm.

- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tăng trên 33%/năm.

- Giá trị sản xuất toàn ngành nông - lâm - ngư nghiệp từ 3,5 - 4%/năm.

- Về cơ cấu kinh tế đến năm 2015: công nghiệp- xây dựng: 52%, dịch vụ: 42%, nông- lâm- ngư nghiệp: 6%.

- Thu nhập bình quân đầu người đạt 38.400.000 đồng/người/năm.

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 5 năm (2011 - 2015) phấn đấu đạt trên 56.000 tỷ đồng.

- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn phấn đấu thực hiện đạt và vượt dự toán hàng năm được giao.

- Duy trì tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,1%. Quy mô dân số đến năm 2015 đạt 398.000 người.

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 2 tuổi bị suy dinh dưỡng còn dưới 6% và tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn dưới 10%.

- Phấn đấu đến năm 2015 có bình quân 20 giường bệnh và có từ 4 - 5 bác sỹ trên vạn dân.

- Giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và bậc trung học. Đạt tỷ lệ huy động 80% trẻ trong độ tuổi đi nhà trẻ vào năm 2015.

- Phấn đấu trên 98% hộ gia đình được công nhận danh hiệu gia đình văn hóa, 100% ấp đạt danh hiệu ấp văn hóa, 20% xã đạt các tiêu chí xã nông thôn  mới và 100% cơ quan, đơn vị được công nhận có đời sống văn hóa tốt.

- Giải quyết việc làm cho trên 25.000 lao động; trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo hàng năm đạt trên 65%.

- Phấn đấu hàng năm giảm 30% số hộ nghèo có trên địa bàn.

- Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 100% tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt 98%.

- Thu gom và xử lý theo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường 100% các loại rác thải công nghiệp không độc hại, rác thải đô thị, chất thải rắn độc hại.

- Phấn đấu đạt các mục tiêu do tỉnh giao hàng năm về phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và  tai nạn giao thông trên địa bàn.

- Hoàn thành chỉ tiêu giao quân hàng năm ở cả hai cấp huyện và xã. Thực hiện đạt chỉ tiêu xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên.

- Đảm bảo tỷ lệ tập hợp số người trong độ tuổi tham gia vào các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội đạt tỷ lệ từ 87% trở lên. Riêng tỷ lệ tập hợp vào Đoàn Thanh niên đạt từ 50% và Hội Liên hiệp Thanh niên đạt từ 65% trở lên.

- Đảm bảo tỷ lệ đoàn viên, hội viên tham gia sinh hoạt và công tác thường xuyên đạt từ 80% trở lên. Tỷ lệ lực lượng đoàn viên, hội viên nòng cốt trong các đoàn thể chính trị - xã hội đạt từ 45% trở lên phấn đấu từng đoàn thể có trên 85% cơ sở vững mạnh, không có cơ sở yếu kém.

- Phấn đấu đến năm 2015, đội ngũ cán bộ, công chức các cấp của huyện đều đạt chuẩn theo quy định.

- Phấn đấu tỷ lệ kết nạp đảng viên mới đạt từ 8%/năm trở lên so với tổng số đảng viên có tại thời điểm cuối mỗi năm.

- Thành lập mới từ 08 đến 12 tổ chức cơ sở Đảng và từ 08 đến 10 tổ chức đoàn, hội thanh niên trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn.

- Đảm bảo tỷ lệ đảng viên tham gia học tập, quán triệt các nghị quyết của Đảng đạt trên 98%/năm (trừ các đồng chí được miễn sinh hoạt). 

- Phấn đấu hàng năm có trên 80% tổ chức cơ sở đảng đạt danh hiệu “trong sạch, vững mạnh”; có trên 80% đảng viên được công nhận đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ.

- Phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ có 100% trường học xây dựng được chi bộ; 100% tổ chức cơ sở Đảng có nguồn trung kiên phát triển được đảng viên mới.

c. Phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu:

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại hoá, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ tốt môi trường. Chú trọng phát triển công nghiệp gắn với phát triển thương mại - dịch vụ, các khu dân cư đô thị.

- Tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển nhanh, đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn và các khu dân cư đô thị. Chú trọng ưu tiên xây dựng các công trình trọng điểm. Tạo điều kiện cho việc triển khai thi công các công trình trọng điểm giao thông liên kết với các địa phương ngoài huyện.

- Đẩy mạnh phát triển lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Thực hiện quy hoạch phát triển thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến 2020. Chú trọng phát triển mạng lưới chợ, trung tâm thương mại, siêu thị và phát triển các dịch vụ tài chính ngân hàng, công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, vận tải, bảo hiểm, y tế.

- Tập trung chuyển dần sản xuất nông nghiệp nông thôn sang nông nghiệp đô thị gắn với thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới của huyện từ nay đến 2015. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp. Hoàn thành dự án đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn từ nay đến năm 2015 của huyện. Thực hiện có hiệu quả công tác khuyến công gắn với giải quyết việc làm, nhất là cho các hộ dân thuộc diện thu hồi đất, tái định cư.  

- Tăng cường công tác quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên khoáng sản. Thực hiện chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải trong các khu công nghiệp.

- Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất; hình thành trường trung học phổ thông trọng điểm, chất lượng cao của huyện. Tiếp tục đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

- Tăng cường công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư xây dựng các cơ sở điều trị, dưỡng bệnh đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tiếp tục nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở địa bàn các khu dân cư. 

- Tiếp tục nâng cao hiệu quả phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tập trung xây dựng khu vực phòng thủ huyện ngày càng vững chắc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới. Củng cố vững chắc thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân. Chú trọng kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp và đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp. 

- Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước. Thực hiện tốt Nghị định 89/CP của Chính phủ về công tác tiếp dân nhằm giải quyết kịp thời những bức xúc và các đơn thư tố cáo, khiếu nại của công dân.

- Phát huy vai trò công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể. Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, triển khai quán triệt kịp thời các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đến đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân.

- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng và cán bộ đảng viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, có hiệu quả. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; công tác cải cách hành chính; công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; công tác tư tưởng, lý luận và báo chí. 

2. Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá III. Từ kinh nghiệm của khoá trước, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá IV cần tiếp tục phát huy ưu điểm, khắc phục những mặt hạn chế, yếu kém, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác cho nhiệm kỳ tới.

3. Thông qua Báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình tại Đại hội XI của Đảng; Báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo báo cáo một số vấn đề bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng trình tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; Báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Báo cáo chính trị trình tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá IV tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đại hội để bổ sung, hoàn chỉnh văn bản đại hội, báo cáo về Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

4. Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá IV, nhiệm kỳ 2010 - 2015 gồm 39 đồng chí; bầu Ban Thường vụ Huyện uỷ gồm 13 đồng chí; bầu đồng chí Phan Thị Mỹ Thanh làm Bí thư; đồng chí Quách Hữu Đức, và đồng chí Từ Ngọc Chiếu làm Phó Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nhơn Trạch khóa IV, nhiệm kỳ 2010 – 2015 và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ IX gồm 17 đồng chí đại biểu chính thức và 01 đồng chí đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá IV hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và các Ban Đảng Tỉnh uỷ để quyết định chuẩn y theo quy định.

5. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá IV căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, trên cơ sở tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy và quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, xây dựng chương trình hành động, các kế hoạch công tác để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đi vào thực hiện trong thực tiễn.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong huyện tiếp tục phát huy truyền thống của Đảng bộ, đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, thách thức, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng bộ huyện và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đã đề ra, góp phần xứng đáng cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng.

 

Nơi nhận:                                                             T/M BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ HUYỆN

- Thường trực Tỉnh ủy;                                                                        BÍ THƯ

- Các Ban Đảng tỉnh;

- Văn phòng Tỉnh ủy;

- Các đ/c phụ trách cụm 2;

- Các đ/c UV.BCH Đảng bộ huyện;                                                   ( Đã ký )

- Các chi, đảng bộ cơ sở;

- Các cơ quan, ban ngành, đoàn thể huyện;

- C,P.VP/HU;

- Lưu.                                                                                       Phan Thị Mỹ Thanh

 

------------------------------------------------------------


                                                              DIỄN VĂN BẾ MẠC

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ IV

(Do đồng chí Phan Thị Mỹ Thanh – Tỉnh ủy viên – Bí thư Huyện ủy đọc)

 

Kính thưa:

- Đ/c Trần Đình Thành - Ủy viên BCH Trung ương Đảng,
Bí thư Tnh ủy - Chủ tịch HĐND tỉnh đồng Nai

- Các vị khách quý.

- Đoàn Chủ tịch Đại hội

- Toàn thể Đại hội

 

Qua 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng bộ và nhân dân, Đại hội Đảng bộ huyện Nhơn Trạch lần thứ IV đã hoàn thành các nội dung chương trình đề ra và kết thúc tốt đẹp.

Đại hội chúng ta vinh dự được đón tiếp đồng chí Bí thư tỉnh ủy, các đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Các vị khách quý.

Sự hiện diện của các đồng chí đã đem đến Đại hội những tình cảm sâu sắc, động viên mạnh mẻ kịp thời đến sức phấn đấu của toàn Đảng Bộ Nhơn Trạch.

Với tinh thần thẳng thắn và cởi mở, Đại hội đã thảo luận và biểu quyết thông qua các báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp dự thảo các báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 10 trình tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 11; báo cáo một số vấn đề về bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng, báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa 8 trình tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 9.

Đồng thời, tiến hành kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ 3, chỉ rõ những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những ưu, khuyết điểm và rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện; trên cơ sở đó quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu cần tập trung lãnh đạo trong 5 năm tới (2010 - 2015).Đại hội đã nhất trí cao với những nội dung chủ yếu trong các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành khóa 3 trình Đại hội và biểu quyết thông qua Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 4.

Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện huyện lần thứ 4, đã quyết định mục tiêu tổng quát của Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015 đó là:

Tập trung huy động các nguồn lực trong và ngoài huyện, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của huyện để phát triển kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao đi đôi với quan tâm giải quyết tốt các vấn đề xã hội.

Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ huyện trong giai đoạn mới, đẩy mạnh phát triển thành phố Nhơn Trạch đến năm 2020 đạt tiêu chí đô thị loại II và trở thành một trong các trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ, du lịch, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ của tỉnh, của vùng trọng điểm kinh tế phía Nam

Đại hội đã thảo luận dân chủ, sáng suốt lựa chọn bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá 4 gồm 39 đồng chí ưu tú, đủ tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ theo quy định, đảm bảo tính liên tục, kế thừa và đổi mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đã đề ra.

Đại hội cũng đã bầu được Đoàn Đại biểu của huyện gồm 17 đồng chí tiêu biểu, đại diện cho trí tuệ, nguyện vọng và ý chí của Đảng bộ và nhân dân huyện Nhơn trạch đi dự Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 9 ( nhiệm kỳ 2010-2015).

Với những kết quả trên, đến thời điểm này Đại hội chúng ta vui mừng báo cáo với Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, với toàn Đảng bộ và nhân dân huyện nhà:

“Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IV đã thành công tốt đẹp”

Kính thưa Đại hội!

Thành công của Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ 4 là nguồn sức mạnh mới, làm tăng thêm mối quan hệ đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng bộ - nhân dân, sẽ tạo ra động lực mới thúc đẩy quá trình thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương giai đoạn 2010 - 2015 và những năm tiếp theo.

5 năm tới, tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện sẽ diễn ra trong điều kiện có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức mới.

Đại hội, kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện nêu cao truyền thống cách mạng của quê hương Nhơn Trạch anh hùng, phát huy mạnh mẽ những thuận lợi, tranh thủ thời cơ, khắc phục mọi khó khăn, vượt qua thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 4, góp phần đưa nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội.

Kính thưa Đại hội!

Để có được sự thành công tốt đẹp ngày hôm nay.

Thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội và Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa 4, Tôi:

- Xin Trân trọng cảm ơn đồng chí Bí thư tỉnh ủy đã đến dự phát biểu chỉ đạo Đại hội.

Những ý kiến chỉ đạo của Đồng chí hết sức sát thực với tình hình của Nhơn Trạch trong thời điểm khẩn trương xây dựng và phát triển Thành phố mới Nhơn Trạch đúng theo qui họach của Chính Phủ và tinh thần Nghị quyết số 13-NQ/TU của Ban Thương vụ Tỉnh ủy. Trong đó điểm đáng lưu ý nhất là vấn đề đào tạo phát triển nguồn nhân lực và giải pháp trọng tâm nâng cao chất lượng qui họach và quản lý qui họach trên địa bàn Huyện trong nhiệm kỳ này.

Tôi xin nghiêm túc tiếp thu và bổ sung những ý kiến chỉ đạo của Đồng chí Bí Thư Tỉnh ủy vào Nghị quyết của Đại hội Đảng Bộ huyện lần thứ 4 (nhiệm kỳ 2010-2015)

- Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, sự giúp đỡ của các Ban Đảng, Văn phòng Tỉnh ủy, các Sở Ngành của Tỉnh .

- Xin trân trọng cám ơn các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên là lãnh đạo huyện qua các thời kỳ, các khóa, quý Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đã dành nhiều tình cảm, động viên cổ vũ và góp công sức cho sự thành công của Đại hội.

- Xin Trân trọng cám ơn đông đảo nhân dân huyện nhà trong mấy ngày qua đã đồng tình ủng hộ và theo dỏi, tin tưởng vào kết quả của đại hội.

- Xin trân trọng cám ơn các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình tỉnh, các cơ quan thông tin, tuyên truyền của huyện, đã theo dõi và đưa tin tuyên truyền kịp thời cho Đại hội.

- Xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, đơn vị trong và ngoài huyện đã dự và gởi lẵng hoa chúc mừng Đại hội; cảm ơn các Đoàn Đại biểu thiếu nhi, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong huyện đến chúc mừng và tặng hoa Đại hội.

- Đại hội đánh giá cao sự đóng góp tích cực và quan trọng của các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa 3.

- Xin Trân trọng cám ơn sự đóng góp của 6 đồng chí đã không tái cử khóa 4 vì nhiều lý do khác nhau, chúc các đồng chí sức khoẻ, hạnh phúc và tiếp tục hỗ trợ, truyền đạt kinh nghiệm lảnh đạo cho Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá mới.

- Xin Trân trọng cám ơn và biểu dương sự nổ lực hợp tác, khẩn trương kịp thời của toàn thể cán bộ, công nhân viên chức các ban ngành, đoàn thể. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong huyện. Đặc biệt là các đồng chí trong 3 tiểu ban chuẩn bị cho Đại Hội.

Với niềm phấn khởi trong đại hội hôm nay, toàn Đảng bộ - nhân dân huyện Nhơn trạch tin tưởng vào sự phát triển của huyện nhà trong thời gian tới.

Thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội , tôi xin tuyên bố:

Bế mạc - Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Nhơn Trạch lần thứ IV (Nhiệm kỳ 2010 - 2015)

Kính chúc Đồng chí Bí thư Tỉnh Ủy, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, các vị khách quý, các đồng chí lão thành cách mạng, quý Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và toàn thể Đại hội mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Xin trân trọng kính chào!

 

  Gửi          In         Phản hồi         Top

Tin đã đưa
 
Thăm dò dư luận
Bạn hãy cho biết ý kiến của mình về mô hình "1 cửa liên thông"
Rất tốt, hãy tiếp tục thực hiện vì giúp người dân giảm việc đi lại, tiết kiệm thời gian, thời gian giải quyết hồ sơ nhanh hơn.
Không nên thực hiện, hãy để người dân nộp hồ sơ trực tiếp tại bộ phận "1 cửa" của huyện.
Tôi không thấy khác biệt gì trong việc có thực hiện hay không mô hình này.
  
Liên kết website
Đăng nhập
Từ điển
Số lượt truy cập
3290238